Thị trường NEV phục hồi, nhưng doanh số nội địa và xuất khẩu đến từ các phân khúc khác nhau

Doanh số NEV nội địa của Hàn Quốc đạt khoảng 491 nghìn chiếc trong nửa đầu năm 2026, tăng khoảng 28% so với cùng kỳ. Xuất khẩu NEV tăng khoảng 32% lên khoảng 533 nghìn chiếc, cho thấy sự phục hồi rõ rệt ở cả thị trường trong và ngoài nước.
Tuy nhiên, cơ cấu tăng trưởng có sự khác biệt đáng kể. Ở thị trường nội địa, doanh số BEV tăng hơn gấp đôi so với cùng kỳ, đạt khoảng 201 nghìn chiếc, đóng góp phần lớn vào mức tăng chung. Mức tăng này phần lớn nhờ nền thấp của doanh số đầu năm 2025. Dù vậy, doanh số hàng tháng vẫn tương đối mạnh trong nửa cuối kỳ, cho thấy nhu cầu đã phần nào bình thường hóa.
HEV vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất thị trường nội địa. Doanh số gần như đi ngang, đạt khoảng 284 nghìn chiếc, chiếm gần 58% tổng doanh số NEV. Điều này cho thấy HEV tiếp tục là nền tảng nhu cầu chính của thị trường xe điện hóa Hàn Quốc, khi các lo ngại về giá xe điện, tiện ích sạc, an toàn pin và giá trị còn lại chưa được giải quyết triệt để.
Thị trường xuất khẩu thậm chí còn thiên về HEV hơn. Xuất khẩu HEV tăng khoảng 49% lên khoảng 367 nghìn chiếc, chiếm gần 69% tổng xuất khẩu NEV. Xuất khẩu BEV cũng tăng nhưng chậm hơn, khoảng 23%. Do đó, phần lớn tăng trưởng xuất khẩu NEV nửa đầu năm đến từ HEV.
Cơ cấu này đồng nghĩa tăng trưởng doanh số và xuất khẩu NEV không nên được hiểu là sự phục hồi tương đương về nhu cầu pin. HEV dùng bộ pin nhỏ hơn nhiều so với BEV, nên tăng trưởng xe không đồng nghĩa tiêu thụ tế bào và vật liệu cathode tăng tương ứng.
Sản lượng pin nội địa giảm dù doanh số xe tăng

Trái với đà tăng của doanh số và xuất khẩu NEV, tổng sản lượng pin NCM và LFP nội địa của các nhà sản xuất lớn Hàn Quốc ước giảm khoảng 29% so với cùng kỳ, còn khoảng 59 GWh.
Sản lượng pin NCM giảm khoảng 39%. Với cơ sở sản xuất pin nội địa Hàn Quốc vẫn tập trung vào pin ternary cho xe điện, mức giảm này cho thấy nhu cầu BEV cao cấp và cỡ trung-lớn cùng sự phục hồi đơn hàng từ khách hàng lớn vẫn chưa đủ.
Sự phân hóa giữa doanh số xe và sản lượng pin phản ánh cả cơ cấu nhu cầu lẫn xu hướng địa phương hóa sản xuất ở nước ngoài. Dù doanh số BEV nội địa phục hồi, tăng trưởng xuất khẩu chủ yếu đến từ HEV. Đồng thời, các hãng pin và ô tô Hàn Quốc mở rộng sản xuất tại Bắc Mỹ và châu Âu, làm suy yếu liên kết trực tiếp giữa doanh số xe ở nước ngoài và sản lượng pin tại Hàn Quốc.
Vì thế, chỉ riêng khối lượng và giá trị xuất khẩu xe đang ngày càng kém hiệu quả trong việc phản ánh nhu cầu vật liệu pin của Hàn Quốc. Phân tích cần bổ sung thêm dung lượng pin mỗi xe, tỷ lệ pin sản xuất nội địa trong chuỗi cung ứng, phân bổ sản xuất ở nhà máy nước ngoài và tỷ lệ vận hành tại các cơ sở trong nước.
ESS dùng LFP nổi lên như trụ cột tăng trưởng mới
Trong khi tổng sản lượng pin giảm, sản lượng LFP mở rộng nhanh. Sản lượng pin LFP của các hãng lớn Hàn Quốc ước đạt khoảng 10 GWh, gấp hơn bốn lần cùng kỳ. Nhờ đó, tỷ trọng LFP trong tổng sản lượng NCM và LFP tăng từ khoảng 3% nửa đầu 2025 lên khoảng 17% nửa đầu 2026.
Điều này không có nghĩa ngành pin Hàn Quốc chuyển nền tảng công nghệ cốt lõi từ NCM sang LFP. NCM vẫn trung tâm cho các dòng BEV cao cấp và cỡ trung-lớn, nơi mật độ năng lượng và phạm vi lái là yêu cầu then chốt. Ngược lại, LFP mở rộng chủ yếu nhờ ứng dụng ESS, nơi chi phí cạnh tranh, an toàn và tuổi thọ chu kỳ được ưu tiên.
Ở thị trường nội địa, mua sắm tập trung ESS và chính sách triển khai dài hạn đang tạo ra nhu cầu ban đầu. Các hãng pin Hàn Quốc cũng mở rộng kinh doanh ESS qua các dự án Bắc Mỹ và chuỗi cung ứng địa phương hóa. Thay vì cạnh tranh giá thuần túy với nhà cung cấp Trung Quốc, họ tạo khác biệt nhờ sản xuất tại chỗ, an toàn hệ thống, công nghệ phòng cháy và độ tin cậy vận hành dài hạn ở thị trường ngoài Trung Quốc.
Tuy nhiên, sản lượng LFP mở rộng vẫn chưa đủ bù đắp mức giảm tổng sản lượng pin. Nửa đầu năm, LFP tăng khoảng 8 GWh, còn NCM giảm khoảng 31 GWh. Dù ESS bắt đầu trở thành kênh nhu cầu mới đáng kể, sự thu hẹp trong mảng NCM truyền thống vẫn lớn hơn nhiều.
Triển vọng
Nửa đầu 2026 cho thấy thay đổi cơ cấu nhu cầu hạ nguồn còn quan trọng hơn bề nổi phục hồi xe. Doanh số BEV nội địa tăng từ nền thấp, nhưng HEV vẫn chiếm phần lớn thị trường. Với xuất khẩu, HEV đóng góp hầu hết tăng trưởng. Vì vậy, các chỉ số ô tô khả quan hơn không kéo theo sự phục hồi rộng của nhu cầu pin và vật liệu NCM nội địa.
Trong khi đó, ESS dùng LFP đang nổi lên như kênh tăng trưởng mới, nhờ chính sách trong nước và các dự án nước ngoài. Sức phục hồi của thị trường pin Hàn Quốc do đó phụ thuộc ít vào tăng trưởng doanh số NEV tổng thể, mà vào việc liệu tỷ trọng BEV có tiếp tục mở rộng và sản lượng LFP cho ESS tăng có thể dần bù đắp cho sự suy giảm của nền sản xuất NCM hiện hữu hay không.
![[Kế hoạch ngành công nghiệp xanh của MIIT (Kế hoạch 5 năm lần thứ 15)]](https://imgqn.smm.cn/usercenter/aXRJI20251217171728.jpg)


