Tháng 6, Nhập khẩu Quặng Phosphate Của Trung Quốc Tăng So Với Tháng Trước, Tỷ Trọng Nguồn Cung Từ Ai Cập Giảm Mạnh, Nguồn Cung Thay Thế Từ Jordan Và Ma Rốc Tăng Vọt [Phân tích của SMM]

Đã xuất bản: Jul 20, 2026 14:37
[Phân tích của SMM: Nhập khẩu quặng photphat của Trung Quốc tăng so với tháng trước trong tháng 6; thị phần của Ai Cập sụt giảm mạnh khi nguồn cung thay thế từ Jordan, Ma-rốc, v.v. tăng vọt] Ngày 20 tháng 7 năm 2026, trích từ dữ liệu hải quan. Trong tháng 6 năm 2026, nhập khẩu quặng photphat của Trung Quốc đạt 137.000 tấn, tăng nhẹ 4,5% so với tháng trước từ mức 131.000 tấn vào tháng 5. Tổng giá trị nhập khẩu là 12,567 triệu USD, tăng 2,8% so với tháng trước. Giá nhập khẩu trung bình là 91,5 USD/tấn, giảm nhẹ 1,7% so với mức 93,0 USD/tấn vào tháng 5.
Tin SMM 20/7:

Điểm nổi bật: Ngày 20/7/2026, theo số liệu hải quan, nhập khẩu quặng phosphate của Trung Quốc trong tháng 6/2026 đạt 137.000 tấn, tăng 4,5% so với tháng 5 (131.000 tấn). Tổng giá trị nhập khẩu là 12,567 triệu USD, tăng 2,8% so với tháng trước. Đơn giá nhập khẩu trung bình là 91,5 USD/tấn, giảm 1,7% so với mức 93,0 USD/tấn của tháng 5.

1. Điểm lại tình hình xuất nhập khẩu quặng phosphate tháng 5
Tháng 5/2026, nhập khẩu quặng phosphate của Trung Quốc đạt 131.000 tấn, giảm 36,4% so với tháng trước; tổng giá trị nhập khẩu là 12,226 triệu USD, giảm 38,1% so với tháng trước; đơn giá nhập khẩu trung bình là 93,0 USD/tấn, giảm 2,6% so với tháng trước. Quốc gia nguồn cung tập trung cao độ vào Ai Cập: lượng nhập từ Ai Cập là 128.000 tấn (tăng 31,7% so với tháng trước), chiếm 97,7% tổng nhập khẩu; trong tháng không có nhập khẩu từ Peru hay Jordan. Bối cảnh chính: Ngày 13/5, Bộ Dầu khí và Tài nguyên Khoáng sản Ai Cập tuyên bố sẽ không ký thêm bất kỳ hợp đồng xuất khẩu quặng phosphate mới nào, thúc đẩy quá trình chuyển dịch từ xuất khẩu nguyên liệu thô sang sản xuất các sản phẩm giá trị gia tăng cao như phân bón phosphate. Dưới tác động của tín hiệu thắt chặt chính sách này, đơn giá nhập khẩu từ Ai Cập trong tháng 5 đã tăng 14,1% lên 93,0 USD/tấn, giá CFR (loại quặng 26-27%) được chào ở mức 95-100 USD/tấn.
Phân bổ theo tỉnh có sự thay đổi mạnh: Quảng Tây vươn lên dẫn đầu với 78.000 tấn (tăng 65,9% so với tháng trước); Hồ Bắc, tỉnh dẫn đầu tháng 4 với 157.000 tấn, trong tháng 5 nhập khẩu giảm về 0 (giảm 100% so với tháng trước); Sơn Đông nhập 3.000 tấn (tăng 171,2% so với tháng trước), Chiết Giang 1.000 tấn, và các tỉnh khác cộng lại nhập 50.000 tấn (tăng 3.602,2% so với tháng trước), kênh nhập khẩu tiếp tục đa dạng hóa.
Về xuất khẩu, tháng 5 xuất khẩu 32.000 tấn, tăng 189,6% so với tháng trước. Hồ Bắc xuất 21.000 tấn (tháng 4 không xuất khẩu), Phúc Kiến 6.000 tấn (giảm 40,6% so với tháng trước), Quý Châu 5.000 tấn (tháng 4 không xuất khẩu), các tỉnh như Hồ Bắc, Quý Châu xuất khẩu phục hồi hoàn toàn.
2. Phân tích xuất nhập khẩu quặng phosphate tháng 6

1. Nhập khẩu quặng phosphate: Lượng tăng nhẹ, đơn giá giảm nhẹ trở lại
Tháng 6/2026, nhập khẩu quặng phosphate của Trung Quốc đạt 137.000 tấn, tăng 4,5% so với tháng trước (131.000 tấn tháng 5). Tổng giá trị nhập khẩu là 12,567 triệu USD, tăng 2,8% so với tháng trước. Đơn giá nhập khẩu trung bình là 91,5 USD/tấn, giảm 1,7% so với mức 93,0 USD/tấn của tháng 5. Lượng nhập khẩu phục hồi nhẹ đi kèm đơn giá đồng thời giảm nhẹ phản ánh thị trường sau cú sốc chính sách từ Ai Cập hồi tháng 5 đã bước vào giai đoạn chuyển tiếp "lấy lượng bù giá và chuyển đổi quốc gia nguồn cung".


2. Nhập khẩu quặng phosphate: Cơ cấu quốc gia nguồn cung tái cấu trúc mạnh, Ai Cập giảm mạnh còn 61%, Jordan/Ma-rốc/Kazakhstan tăng lượng thay thế
Cấu trúc nhập khẩu phụ thuộc một quốc gia duy nhất hồi tháng 5 đã được tái cấu trúc mạnh mẽ trong tháng 6. Lượng nhập từ Ai Cập từ 128.000 tấn tháng 5 giảm xuống còn 84.000 tấn, giảm mạnh 34,7% so với tháng trước, nhưng vẫn là quốc gia nguồn cung hàng đầu; tỷ trọng của Ai Cập giảm mạnh từ 97,7% tháng 5 xuống còn khoảng 61%, cho thấy hiệu lực chính sách từ tuyên bố ngày 13/5 của Ai Cập về việc ngừng ký hợp đồng xuất khẩu quặng phosphate mới đã bắt đầu có tác động thực tế.

Lượng nhập từ Jordan từ mức cực thấp (khoảng 1 tấn) tháng 5 tăng vọt lên 48.000 tấn, tăng gấp hàng vạn lần so với tháng trước, vươn lên vị trí thứ hai; đơn giá nhập khẩu là 95 USD/tấn, giảm 91,7% so với tháng 5 (chủ yếu do hiệu ứng cơ sở từ mức đơn giá đơn lẻ cao trước đó). Nguồn cung Jordan chủ yếu là quặng cấp trung bình, giá ổn định, trở thành phương án thay thế cốt lõi bù đắp cho sự thiếu hụt từ Ai Cập trong tháng này.

Pakistan nhập khẩu 6.000 tấn, tăng 71,6% so với tháng trước, đơn giá nhập khẩu giảm nhẹ, duy trì nguồn cung ổn định từ Nam Á lân cận. Các quốc gia khác như Ma-rốc, Kazakhstan, Peru, Li-băng cộng lại nhập khoảng 2.000 tấn; đơn giá nhập khẩu từ Ma-rốc cao tới 5.050 USD/tấn, Kazakhstan là 2.895,2 USD/tấn, chịu ảnh hưởng bởi quặng cao cấp khan hiếm, đơn giá cao hơn đáng kể so với nguồn cung chính.

Về giá trị nhập khẩu, trong tổng 12,567 triệu USD của tháng 6, tỷ trọng của Ai Cập giảm đáng kể (khoảng 7,7 triệu USD, xấp xỉ 61%), Jordan chiếm khoảng 4,54 triệu USD, còn lại Pakistan, Ma-rốc và các nước khác chiếm tỷ lệ hạn chế. Tăng trưởng giá trị 2,8% so với tháng trước phân kỳ với tăng trưởng lượng 4,5% càng xác nhận sự sụt giảm cơ cấu của giá trung bình do tỷ trọng Ai Cập giảm.

3. Nhập khẩu quặng phosphate: Phân bổ tỉnh lại thay đổi, Quảng Tây tiếp tục dẫn đầu, Chiết Giang tăng gấp 89 lần

Cấu trúc nhập khẩu theo tỉnh tháng 6 tiếp tục có sự điều chỉnh mạnh mẽ kể từ tháng 5. Quảng Tây tiếp tục là tỉnh nhập khẩu hàng đầu với 84.000 tấn , tăng 6,7% so với tháng trước, giá trị nhập khẩu 7,508 triệu USD (tăng 6,8% so với tháng trước), duy trì lợi thế truyền thống trong việc tiếp nhận nguồn cung Bắc Phi và Trung Đông như Ai Cập, Jordan. Chiết Giang nhập khẩu 48.000 tấn, tăng vọt 8.884,7% (khoảng 89 lần) so với con số 500 tấn của tháng 5, giá trị nhập khẩu 4,543 triệu USD, tăng 9.546,4% so với tháng trước, vươn lên vị trí thứ hai, phản ánh các doanh nghiệp nhập khẩu Đồng bằng sông Dương Tử sau cú sốc chính sách tháng 5 đã nhanh chóng chuyển sang các nguồn cung thay thế như Jordan, tốc độ chuyển kênh vượt xa các tỉnh khác. Hồ Bắc sau khi không nhập khẩu vào tháng 5, trong tháng 6 đã phục hồi một phần nhập khẩu, với đơn giá nhập khẩu 389,5 USD/tấn, cao hơn đáng kể so với trung bình toàn quốc, cho thấy đặc điểm nguồn cung cao cấp khan hiếm. Đơn giá nhập khẩu của Bắc Kinh đạt 934,5 USD/tấn, cao nhất toàn quốc, chủ yếu phục vụ mua hàng cao cấp số lượng nhỏ. Sơn Đông, Thượng Hải và các tỉnh khác duy trì nhập khẩu nhỏ lẻ ổn định. Vân Nam tháng 6 không nhập khẩu, giảm 100% so với tháng trước, điều chỉnh cấu trúc khu vực rõ rệt.
Về đơn giá nhập khẩu, Quảng Tây trong tháng 6 ổn định ở mức 89-90 USD/tấn, nguồn cung chính liên tỉnh tại Chiết Giang giá khoảng 95 USD/tấn, về cơ bản sát với giá trung bình toàn quốc 91,5 USD/tấn; các tỉnh giá cao như Bắc Kinh, Hồ Bắc do quy mô mua nhỏ số lượng cao cấp, đơn giá bị kéo lên, chưa tạo áp lực tăng đáng kể lên giá trung bình toàn quốc.


Cơ cấu tỉnh nhập khẩu trong tháng 5 có sự thay đổi mạnh.Quảng Tây vọt lên dẫn đầu với 78.000 tấn nhập khẩu, tăng 65,9% so với tháng trước; trong khi Hồ Bắc, tỉnh dẫn đầu tháng 4 với 157.000 tấn, sang tháng 5 nhập khẩu về 0, giảm 100% so với tháng trước. Sơn Đông nhập 3.000 tấn, tăng 171,2% so với tháng trước; Chiết Giang nhập 1.000 tấn. Các tỉnh khác cộng lại nhập 50.000 tấn, tăng vọt 3.602,2% so với tháng trước, phản ánh kênh nhập khẩu tiếp tục đa dạng hóa.
Giá trị nhập khẩu: Quảng Tây 7,032 triệu USD (tăng 84,5% so với tháng trước), các tỉnh khác 4,896 triệu USD (tăng 3.936,7% so với tháng trước), Sơn Đông 249.000 USD (tăng 167,6% so với tháng trước), Chiết Giang 47.000 USD.
Giá nhập khẩu đơn vị: giá tháng 5 của Quảng Tây là 89,8 USD/tấn, tăng 11,2% so với tháng 4; các tỉnh khác là 98,1 USD/tấn, tăng 9,0% so với tháng trước; Sơn Đông là 93,6 USD/tấn.
4. Xuất khẩu quặng phosphat: 51.000 tấn, tăng vọt 58,3% so với tháng trước, do Vân Nam và Phúc Kiến dẫn đầu
Trong tháng 6 năm 2026,tổng xuất khẩu quặng phosphat của Trung Quốc đạt 51.000 tấn, tăng mạnh 58,3% so với 32.000 tấn của tháng 5,nối dài xu hướng tăng trưởng sản lượng liên tục kể từ tháng 4.
Theo tỉnh xuất khẩu, Vân Nam vươn lên vị trí thứ nhất với 34.000 tấn (không xuất khẩu trong tháng 5), đóng góp phần lớn vào tăng trưởng, phản ánh việc giao hàng tập trung các đơn hàng xuất khẩu trước đó của các doanh nghiệp hàng đầu như Tập đoàn Hóa chất Phân lân Vân Nam và Vân Thiên Hóa. Phúc Kiến xuất khẩu 17.000 tấn, tăng 158,5% so với 6.000 tấn của tháng 5, duy trì tốc độ xuất khẩu ổn định từ tháng 2 đến tháng 5. Quý Châu và Hồ Bắc không xuất khẩu trong tháng 6, dẫn đến cơ cấu khu vực mới theo mô hình “Vân Nam tiếp quản và Hồ Bắc rút lui”.
Bối cảnh tăng vọt xuất khẩu: Do kỳ vọng dự trữ mùa đông trong nước tăng cao đối với quặng phosphat (truyền thống bắt đầu dự trữ từ tháng 10 đến tháng 11) và nhu cầu tập trung cho sắt phốt phát trong chuỗi ngành năng lượng mới, cán cân cung cầu quặng phosphat của Trung Quốc tạm thời thắt chặt. Lượng xuất khẩu tập trung trong tháng 6 chủ yếu được thúc đẩy bởi việc giao các đơn hàng trước đó; cần chú ý đến những thay đổi về tốc độ xuất khẩu trong quý 3.

III. Triển vọng thị trường
Thị trường nhập khẩu quặng phosphat trong tháng 6 có bốn đặc điểm chính:Thứ nhất, tổng lượng nhập khẩu phục hồi nhẹ, chỉ tăng 4,5% so với tháng trước sau cú sụt giảm mạnh do cú sốc chính sách của Ai Cập vào tháng 5, tốc độ phục hồi nhập khẩu chậm hơn kỳ vọng thị trường.

Thứ hai, cơ cấu quốc gia nguồn cung có sự tái cơ cấu mạnh mẽ, tỷ trọng của Ai Cập giảm từ 97,7% xuống còn khoảng 61%, các nguồn thay thế như Jordan, Pakistan và Maroc bắt đầu tăng nhưng vẫn chưa thể bù đắp hoàn toàn khoảng trống.

Thứ ba, cơ cấu tỉnh nhập khẩu tăng tốc chuyển dịch, với Quảng Tây giữ vị trí dẫn đầu, Chiết Giang tăng vọt gấp 89 lần, Hồ Bắc nối lại nhập khẩu giá cao – đưa mô hình kênh khu vực vào giai đoạn “tái thiết”.

Thứ tư, phía xuất khẩu chứng kiến lượng hàng được giải phóng tập trung, do Vân Nam và Phúc Kiến dẫn đầu, phản ánh sự thắt chặt tạm thời của cán cân cung cầu trong nước.

Nhìn về quý 3,tác động từ việc Ai Cập dừng ký hợp đồng xuất khẩu mới sẽ tiếp tục diễn ra—nhập khẩu tháng 7-8 có thể duy trì trong khoảng 130.000-150.000 tấn, với giá nhập khẩu đơn vị đi ngang ở mức 90-100 USD/tấn.Ba điểm chính cần theo dõi:thứ nhất, sự ổn định nguồn cung và cơ cấu phẩm cấp của các nguồn thay thế như Jordan và Maroc; thứ hai, tốc độ hiện thực hóa nhu cầu cao điểm đối với amoni phosphat/sắt phốt phát trong nước và kích thích nhu cầu nhập khẩu; thứ ba, những thay đổi về chính sách xuất khẩu và thời gian thông quan trước và sau mùa dự trữ mùa đông (tháng 10-11).

Giá nhập khẩu trung bình quý 3 dự kiếndao động trong khoảng 90-100 USD/tấn. Khi nhu cầu dự trữ mùa đông trong nước hiện thực hóa vào quý 4, nhập khẩu sẽ tăng vọt trở lại, với mức giá trung bình có thể dịch chuyển lên95-105 USD/tấn.

 

Lưu ý: Nếu bạn có bất kỳ thông tin bổ sung nào cho các chi tiết trong bài viết này hoặc quan tâm đến hóa chất phốt pho (quặng phosphat, sắt phốt phát, LFP, v.v.) và pin thể rắn, vui lòng liên hệ với chúng tôi. Chi tiết liên hệ:

Điện thoại: 021-20707860 (hoặc WeChat: 13585549799), Yang Chaoxing. Cảm ơn!

Tuyên bố về Nguồn Dữ liệu: Ngoại trừ thông tin công khai, tất cả dữ liệu khác được SMM xử lý dựa trên thông tin công khai, giao tiếp thị trường và dựa trên mô hình cơ sở dữ liệu nội bộ của SMM. Chúng chỉ mang tính chất tham khảo và không cấu thành khuyến nghị ra quyết định.

Hình ảnh trong bài viết này có chú thích được AI dịch, chỉ để tham khảo.

Để biết thêm thông tin hoặc có thắc mắc gì, vui lòng liên hệ: lemonzhao@smm.cn
Để biết thêm thông tin về cách truy cập báo cáo nghiên cứu, vui lòng liên hệ:service.en@smm.cn
Tin Liên Quan
[SMM Flash] Giá tinh quặng spodumene Zimbabwe giảm trên mọi cấp hàm lượng, dẫn đầu là loại 5% Li₂O giảm 1,99%
3 giờ trước
[SMM Flash] Giá tinh quặng spodumene Zimbabwe giảm trên mọi cấp hàm lượng, dẫn đầu là loại 5% Li₂O giảm 1,99%
Đọc thêm
[SMM Flash] Giá tinh quặng spodumene Zimbabwe giảm trên mọi cấp hàm lượng, dẫn đầu là loại 5% Li₂O giảm 1,99%
[SMM Flash] Giá tinh quặng spodumene Zimbabwe giảm trên mọi cấp hàm lượng, dẫn đầu là loại 5% Li₂O giảm 1,99%
Giá tinh quặng spodumene Zimbabwe, CIF các cảng chính Trung Quốc, ngày 7/8 giảm trên cả ba cấp được theo dõi, trong đó cấp thấp ghi nhận mức giảm phần trăm mạnh nhất. Cấp 6% Li₂O (SMM-Li-SC-005) chốt ở mức 2.010 USD/tấn, giảm 25 USD (-1,23%), giao dịch trong khoảng 1.970–2.050 USD/tấn. Cấp 5,5% Li₂O (SMM-Li-SC-006) đóng cửa ở mức 1.885 USD/tấn, giảm 30 USD (-1,57%), trong biên độ 1.860–1.910 USD/tấn. Cấp 5% Li₂O (SMM-Li-SC-007) giảm mạnh nhất, chốt tại 1.725 USD/tấn, giảm 35 USD (-1,99%), với biên độ ngày rộng nhất trong ba cấp là 1.660–1.790 USD/tấn. Sự sụt giảm đã nới rộng chênh lệch cấp ở vùng thấp của đường cong: chênh lệch giữa cấp 6% và 5,5% ở mức 125 USD/tấn, trong khi chênh lệch giữa cấp 5,5% và 5% nới rộng lên 160 USD/tấn, tăng so với mức chênh lệch thông thường, cho thấy nhu cầu tương đối yếu hơn đối với nguyên liệu Zimbabwe cấp thấp so với tinh quặng Li₂O cao hơn trong ngày. Quan điểm SMM: Đà giảm trên diện rộng ở cả ba cấp spodumene Zimbabwe phản ánh tình trạng suy yếu chung của tổ hợp hóa chất lithium Trung Quốc, trong đó nguyên liệu cấp thấp chịu tác động nặng nề nhất của đợt giảm giá khi người mua ưu tiên nguyên liệu đầu vào cấp cao trong bối cảnh mua hàng thận trọng. SMM sẽ tiếp tục theo dõi liệu chênh lệch 5,5%–5% nới rộng có kéo dài sang phiên định giá tiếp theo hay chỉ phản ánh hiệu ứng thanh khoản trong một ngày giao dịch.
3 giờ trước
[Phân tích SMM] Corica Mali giành hợp đồng khai thác mỏ lộ thiên trị giá 348 triệu đô la tại dự án lithium Goulamina của Ganfeng
3 giờ trước
[Phân tích SMM] Corica Mali giành hợp đồng khai thác mỏ lộ thiên trị giá 348 triệu đô la tại dự án lithium Goulamina của Ganfeng
Đọc thêm
[Phân tích SMM] Corica Mali giành hợp đồng khai thác mỏ lộ thiên trị giá 348 triệu đô la tại dự án lithium Goulamina của Ganfeng
[Phân tích SMM] Corica Mali giành hợp đồng khai thác mỏ lộ thiên trị giá 348 triệu đô la tại dự án lithium Goulamina của Ganfeng
Corica Mali, một công ty con của Corica Mining Services, đã được trao hợp đồng dịch vụ khai thác lộ thiên tại dự án spodumene Goulamina ở Mali, trị giá khoảng 348 triệu USD. Hợp đồng này được thực hiện sau quá trình đấu thầu cạnh tranh và bao gồm sáu tháng hoạt động tiền sản xuất, tiếp theo là thời hạn cố định năm năm. Corica đã huy động đến công trường theo thỏa thuận thi công sớm và hiện đang tiến hành bóc đất phủ, khai thác quặng xuất thẳng (DSO) và nghiền. Phạm vi công việc bao gồm kiểm soát hàm lượng, khoan nổ mìn, xúc bốc và vận chuyển, cùng dịch vụ cấp liệu quặng cho nhà máy, với mục tiêu vận chuyển vật liệu dự kiến đạt 18-20 triệu tấn/năm trong suốt thời hạn hợp đồng. Con số này đề cập đến tổng khối lượng vật liệu khai thác (quặng cộng với đất đá thải), khác với sản lượng tinh quặng spodumene thành phẩm. Nghiên cứu khả thi dứt điểm Giai đoạn 1 của Goulamina vạch ra công suất danh nghĩa khoảng 506.000 tấn tinh quặng spodumene 6% Li₂O (SC6) mỗi năm, với các thử nghiệm xác nhận tinh quặng chất lượng cao, hàm lượng mica thấp. Về hậu cần, Goulamina nằm sâu trong nội địa, cách Bougouni khoảng 50 km về phía tây ở miền nam Mali, và tinh quặng spodumene sản xuất tại đây được vận chuyển bằng xe tải đường bộ đến các cảng biển để xuất hàng tiếp đến thị trường cuối cùng, chủ yếu là các nhà chế biến Trung Quốc. Thông lệ ngành đối với các dự án spodumene ở Tây Phi không giáp biển là bán tinh quặng theo điều kiện FOB tại cảng xuất khẩu, người mua sẽ thu xếp và chịu chi phí vận tải biển từ thời điểm đó; tinh quặng có xuất xứ từ Mali trong lịch sử chủ yếu vận chuyển qua Abidjan, với San Pedro và Dakar là các hành lang thứ cấp. Các điều khoản Incoterms cụ thể và tuyến đường xuất khẩu cho các lô hàng thương mại của Goulamina không được tiết lộ trong thông báo hợp đồng và cần được xác nhận dựa trên tài liệu bao tiêu thay vì suy đoán. Goulamina nắm giữ tất cả các phê duyệt và giấy phép chính cần thiết cho sản xuất. Cơ cấu sở hữu đã thay đổi kể từ thông báo hợp đồng khai thác ban đầu: Ganfeng Lithium, trước đây là đối tác liên doanh nắm 50%, đã mua lại 40% cổ phần còn lại từ Leo Lithium trong một giao dịch hoàn tất trong giai đoạn 2024-2025, và hiện nắm giữ dự án cùng với cổ phần của Chính phủ Mali theo các điều khoản của bộ luật khai khoáng sửa đổi; tỷ lệ cổ phần hiện tại của nhà nước cần được xác minh dựa trên công bố mới nhất của chính phủ Mali thay vì con số 10% cổ phần miễn phí được trích dẫn tại thời điểm ký hợp đồng. Lô hàng thương mại đầu tiên từ Goulamina đã được xuất đi vào tháng 8 năm 2025, thay thế mục tiêu sản xuất ban đầu vào nửa đầu năm 2024 được tham chiếu khi hợp đồng này được công bố lần đầu. Corica đã hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ khai thác mỏ ở Tây Phi hơn 20 năm và báo cáo có hơn 2.000 nhân viên, theo số liệu do công ty cung cấp; những số liệu này chưa được SMM xác minh độc lập. Quan điểm của SMM: Hợp đồng Corica nhấn mạnh quy mô nhu cầu dịch vụ khai thác lộ thiên đi kèm với việc Mali đang tăng tốc trở thành nguồn cung spodumene, với mục tiêu vận chuyển vật liệu 18-20 triệu tấn/năm hỗ trợ công suất danh nghĩa khoảng 506.000 tấn SC6 mỗi năm của Goulamina. Với việc Ganfeng hiện nắm toàn bộ quyền sở hữu tư nhân sau khi mua lại cổ phần của Leo Lithium vào năm 2024-2025, các quyết định về bao tiêu và hậu cần tại Goulamina hoàn toàn do Ganfeng và nhà nước Mali quyết định, củng cố khả năng kiểm soát trực tiếp của Trung Quốc đối với một phần ngày càng tăng của nguồn cung spodumene Tây Phi đến với công suất chế biến của Trung Quốc. SMM sẽ theo dõi các công bố tiếp theo về tuyến đường xuất khẩu của Goulamina và các điều khoản Incoterms theo hợp đồng khi khối lượng xuất hàng tăng lên.
3 giờ trước
[Phân tích của SMM] Các nhà sản xuất lithium Zimbabwe cam kết 1,45 tỷ USD cho chế biến trong nước, tìm kiếm sự linh hoạt về lệnh cấm xuất khẩu
3 giờ trước
[Phân tích của SMM] Các nhà sản xuất lithium Zimbabwe cam kết 1,45 tỷ USD cho chế biến trong nước, tìm kiếm sự linh hoạt về lệnh cấm xuất khẩu
Đọc thêm
[Phân tích của SMM] Các nhà sản xuất lithium Zimbabwe cam kết 1,45 tỷ USD cho chế biến trong nước, tìm kiếm sự linh hoạt về lệnh cấm xuất khẩu
[Phân tích của SMM] Các nhà sản xuất lithium Zimbabwe cam kết 1,45 tỷ USD cho chế biến trong nước, tìm kiếm sự linh hoạt về lệnh cấm xuất khẩu
Theo Chủ tịch Hiệp hội các Nhà sản xuất Lithium, ông Innocent Rukweza, đồng thời là người đứng đầu Mutapa Energy Resources, các nhà sản xuất lithium của Zimbabwe đã cam kết tổng cộng khoảng 1,45 tỷ USD cho cơ sở hạ tầng chế biến trong nước. Phát biểu tại Hội thảo Mine Entra về Lợi ích và Gia tăng giá trị ở Bulawayo, ông Rukweza cho biết ngành đã đề nghị chính phủ linh hoạt đối với lệnh hạn chế xuất khẩu sắp tới đối với tinh quặng spodumene chưa qua chế biến, với lý do năng lực sẵn sàng của các nhà máy sulphate trên toàn ngành còn hạn chế. SMM lưu ý rằng ngày có hiệu lực của lệnh cấm và bất kỳ điều chỉnh nào đối với lệnh này nên được xác nhận dựa trên thông báo mới nhất của chính phủ thay vì bình luận tại hội thảo, và con số 1,45 tỷ USD là do hiệp hội báo cáo và chưa được xác minh độc lập. Trong số bảy nhà sản xuất lớn, chỉ có nhà máy liên kết với Huayou tại khu mỏ Arcadia của Prospect Lithium Zimbabwe là đã hoàn thành và đưa vào vận hành công suất chuyển đổi sulphate cho đến nay. Cơ sở trị giá 400 triệu USD này đã xuất khẩu lô lithium sulphate đầu tiên được sản xuất trong nước của châu Phi vào tháng 4 năm 2026 và hiện đang hoạt động. Nhà máy sulphate trị giá 500 triệu USD của Sinomine tại Bikita vẫn đang được xây dựng, dự án sulphate trị giá hơn 200 triệu USD của Công ty Khai thác mỏ Kamativi đang ở giai đoạn đầu tư với tình trạng vận hành chưa được xác nhận, và một cơ sở thứ tư chưa được nêu tên dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2027. Khoảng cách giữa vốn cam kết và sản lượng đã vận hành chính là hạn chế nguồn cung thực tế đằng sau yêu cầu linh hoạt về thời hạn của ngành: các nhà sản xuất còn lại vẫn đang vận chuyển tinh quặng thay vì sulphate và sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp nếu lệnh hạn chế xuất khẩu hàng chưa qua chế biến có hiệu lực trước khi nhà máy của họ đi vào hoạt động. Hậu cần làm tăng thêm một lớp rủi ro cho mốc thời gian đó. Tinh quặng spodumene hiện được xuất khẩu theo điều kiện CIF sang Trung Quốc, chủ yếu qua Beira ở Mozambique và Durban ở Nam Phi, và sản lượng sulphate từ các nhà máy đã vận hành và trong tương lai có thể sẽ cần di chuyển qua cùng các hành lang này nếu không có các thỏa thuận riêng. Sự bất ổn của lưới điện ZETDC tiếp tục ảnh hưởng đến thời gian hoạt động của nhà máy chế biến, tác động trực tiếp đến tốc độ mà các cơ sở sulphate còn lại có thể tăng lên công suất thiết kế sau khi vận hành, trong khi tắc nghẽn tại cửa khẩu Machipanda và dọc theo các hành lang đường sắt Beitbridge-Durban và Maputo ảnh hưởng đến thời gian quay vòng độc lập với mức độ sẵn sàng sản xuất tại chỗ. Ngay cả khi công suất sulphate đi vào hoạt động đúng tiến độ, những hạn chế này sẽ định hình liệu ngành có thể chuyển đổi công suất đã vận hành thành khối lượng xuất khẩu ổn định trước khi có bất kỳ chính sách thắt chặt xuất khẩu tinh quặng nào hay không. Về mặt tài khóa, gánh nặng thuế hiệu quả của ngành được ước tính vào khoảng 40% doanh thu bán hàng, bao gồm thuế xuất khẩu 10% đối với lithium chưa qua chế biến, tiền bản quyền 7%, phí phát triển cộng đồng 3%, phí tiếp thị MMCZ 1% và VAT 15,5%, trước khi cộng thêm thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền lương và các yêu cầu giữ lại ngoại tệ. Hiệp hội đã kêu gọi xem xét lại, lưu ý rằng mức thuế của Zimbabwe cao hơn so với các đối thủ toàn cầu. Ngoài lithium, hiệp hội đã chỉ ra giá trị chưa được thu hồi từ tantali, niobi và xêsi trong hoạt động khai thác lithium, và chính phủ sau đó đã đưa ra các yêu cầu bắt buộc về khai báo khoáng sản và phòng thí nghiệm phân tích tại chỗ tại các mỏ đang sản xuất. Các số liệu về tổn thất và đầu tư cụ thể được trích dẫn cho dòng sản phẩm phụ này không được quy kết độc lập tại hội thảo và không được nêu ở đây cho đến khi có nguồn thông tin chính thức. Quan điểm của SMM: Nỗ lực chế biến của Zimbabwe hiện chỉ là câu chuyện của một nhà máy, với Arcadia đã vận hành và xuất khẩu sulphate trong khi Bikita, Kamativi và cơ sở thứ tư vẫn đang trong giai đoạn xây dựng hoặc đầu tư. Những hạn chế mang tính ràng buộc trong việc thu hẹp khoảng cách đó không hoàn toàn là về tài chính; độ tin cậy của lưới điện và tắc nghẽn hành lang tại Machipanda và dọc theo các tuyến Beitbridge-Durban và Maputo sẽ định hình tốc độ mà công suất đã vận hành chuyển đổi thành khối lượng xuất khẩu ổn định. Gánh nặng thuế hiệu quả khoảng 40% vẫn là một điểm bất đồng riêng biệt và có thể dai dẳng hơn với Harare. SMM sẽ xác nhận con số đầu tư cam kết và tình trạng chính sách xuất khẩu hiện tại khi có thêm các công bố thông tin chính thức.
3 giờ trước
Đăng ký để Tiếp tục Đọc
Tiếp cận những phân tích mới nhất về kim loại và năng lượng mới
Đã có tài khoản?đăng nhập tại đây