[Phân tích SMM] Đánh giá thị trường quặng crôm năm 2026: Động lực cung-cầu đảo ngược, tồn kho tăng cao gây sức ép lên giá

Đã xuất bản: Jul 10, 2026 18:50
Thông cáo báo chí, ngày 10 tháng 7 năm 2026: Giá quặng crom biến động theo từng giai đoạn rõ rệt trong nửa đầu năm 2026, tăng mạnh suốt quý I rồi giảm dần theo xu hướng đi xuống trong quý II.

Thông cáo báo chí, ngày 10 tháng 7 năm 2026:

Giá quặng crom biến động theo từng giai đoạn rõ rệt trong nửa đầu năm 2026, tăng mạnh trong quý 1 trước khi trượt dốc dần dần trong quý 2.

Đánh giá giá: Tăng giá do chi phí đẩy, sau đó giảm dần trong bối cảnh dư cung

Lấy ví dụ quặng tinh crom Nam Phi 40–42%, giá giao ngay trong nước tăng từ 52,5 nhân dân tệ/tấn đơn vị lên 60,5 nhân dân tệ/tấn đơn vị trong quý 1, trong khi báo giá của các mỏ lớn ở nước ngoài tăng từ 264 đô la Mỹ/tấn lên 319 đô la Mỹ/tấn. Giai đoạn đầu, hạn ngạch quặng niken Indonesia thắt chặt đẩy giá thép không gỉ tăng mạnh. Được thúc đẩy bởi tâm lý thị trường lạc quan, giá quặng cromit nước ngoài dẫn dắt đà tăng. Cùng với các nhà máy ferô-crom trong nước tăng cường tích trữ trước Tết Nguyên đán, giá giao ngay trong nước theo đó cũng tăng. Sau đó, căng thẳng Trung Đông giữa Mỹ và Iran bùng phát khiến giá nhiên liệu tăng vọt, kéo theo cước vận tải biển quặng cromit tăng đột biến. Chi phí logistics cao hơn tiếp tục đẩy giá quặng cromit lên.

Quý 2 chứng kiến tình trạng dư cung quặng cromit rõ rệt, áp lực xuất hàng gia tăng khiến báo giá quặng liên tục giảm. Căng thẳng Trung Đông hạ nhiệt, chặn đứng đà tăng và ổn định chi phí vận tải biển quặng crom. Lượng xuất khẩu quặng cromit toàn cầu duy trì ở mức cao 2,8–3,0 triệu tấn/tháng, khiến nguồn cung dồi dào. Lượng hàng cập cảng dồn dập thúc đẩy tồn kho tại các cảng lớn liên tục tăng. Trong khi đó, các nhà sản xuất ferô-crom đã hoàn thành mua tích trữ số lượng lớn trong quý trước, khiến nhu cầu mua yếu và thái độ chờ đợi quan sát biến động giá quặng, dẫn đến khối lượng giao dịch ảm đạm. Người nắm giữ quặng cromit mất niềm tin và bắt đầu bán hàng với giá chiết khấu để xả hàng. Quặng mịn Nam Phi dư thừa giảm mạnh từ 60,5 nhân dân tệ/tấn đơn vị xuống 55 nhân dân tệ. Ngược lại, quặng tinh cromit cao cấp và nguồn cung giao ngay quặng cromit chủ lưu vẫn tương đối khan hiếm, hạn chế đà giảm. Nhìn chung, giá diễn biến phân hóa.

Bức tranh nguồn cung: Xuất hàng ổn định và tồn kho tăng cao kéo dài

Theo dữ liệu thống kê của SMM, tổng lượng xuất khẩu quặng cromit số lượng lớn toàn cầu từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2026 đạt 16,08 triệu tấn, tăng 13,87% so với cùng kỳ năm trước, với lượng xuất hàng tháng duy trì ở mức 2,8–3,0 triệu tấn. Tổng nhập khẩu quặng cromit của Trung Quốc từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2026 đạt 11,26 triệu tấn, trung bình 2,25 triệu tấn/tháng, tăng 36,36% so với cùng kỳ. Nguồn cung dồi dào trong suốt nửa đầu năm 2026, gián đoạn duy nhất vào tháng 2 do tắc nghẽn vận tải vì lũ lụt trong mùa mưa ở Nam Phi. Triển vọng nguồn cung lỏng lẻo khó có thể thay đổi trong ngắn hạn.

Theo quốc gia nguồn, Nam Phi vẫn giữ vị trí thống trị. Nhập khẩu quặng cromit từ Nam Phi trong nửa đầu năm 2026 đạt tổng cộng 8,96 triệu tấn, tăng 29,91% so với cùng kỳ và chiếm 79,64% tổng nhập khẩu của Trung Quốc. Các nhà máy ferô-crom ở Nam Phi đóng cửa hàng loạt trong năm 2025 khiến khả năng hấp thụ quặng nội địa giảm mạnh, buộc các mỏ trong nước chuyển hướng mạnh sang xuất khẩu, duy trì nguồn cung quặng cromit Nam Phi tăng cao. Lượng xuất từ Zimbabwe và Thổ Nhĩ Kỳ cũng ghi nhận mức tăng trưởng đáng kể:

  • Nhập khẩu từ Zimbabwe: 989.600 tấn, +44,3% so với cùng kỳ, thị phần 8,8%
  • Nhập khẩu từ Thổ Nhĩ Kỳ: 694.600 tấn, +170,17% so với cùng kỳ, thị phần 6,13%

Lượng quặng dồn dập cập cảng đẩy dòng hàng nhập khẩu tăng cao, nâng tồn kho cảng lên mức kỷ lục mới liên tục. Tính đến cuối tháng 6, tồn kho quặng cromit tại các cảng trên toàn quốc đạt 4,7 triệu tấn, tăng vọt 67,86% so với cùng kỳ. Dự báo bi quan về mùa tiêu thụ thấp điểm ở hạ nguồn khiến các nhà sản xuất ferô-crom đứng ngoài với nhu cầu mua yếu, chưa thấy điểm đảo chiều giảm tồn kho đối với quặng cromit.

Bức tranh nhu cầu: Sản lượng ổn định nhưng nhịp mua chậm chạp

Sản lượng ferô-crom trong nước có xu hướng tăng trong nửa đầu năm 2026, trung bình 900.200 tấn/tháng, tăng 36,79% so với cùng kỳ, tạo nền tảng nhu cầu cứng cho quặng cromit. Tuy nhiên, hầu hết các nhà máy ferô-crom đã hoàn tất dự trữ nguyên liệu trong quý 1. Quý 2 chứng kiến hiệu suất ngành thép không gỉ hạ nguồn yếu và biến động, khiến các nhà sản xuất áp dụng chiến lược mua cầm tay chỉ đủ dùng, không xây dựng tồn kho dài hạn. Do đó, hoạt động hỏi mua và giao dịch quặng cromit duy trì trạng thái ảm đạm, kéo giá quặng giảm. Trong bối cảnh nguồn cung quặng dồi dào, các nhà sản xuất ferô-crom giữ thái độ thận trọng chờ đợi. Tình trạng dư cung ferô-crom gia tăng và giá ferô-crom giảm nhẹ càng làm suy giảm niềm tin vào triển vọng thị trường, thúc đẩy tâm lý giảm giá lan rộng và thế bế tắc giữa người mua và người bán.

Triển vọng thị trường

Trong ngắn hạn, thị trường quặng cromit chủ yếu sẽ dao động trong biên độ hẹp trong bối cảnh dư cung. Một mặt, tiến độ khởi động lại sản xuất ferô-crom ở Nam Phi chậm chạp, khiến khả năng hấp thụ quặng tại địa phương yếu. Xuất khẩu hàng tháng dự kiến duy trì ở mức cao 2,4 triệu tấn, rủi ro giảm đối với tổng lượng xuất khẩu quặng cromit hạn chế. Mặt khác, ngành thép không gỉ vẫn chìm trong mùa tiêu thụ thấp điểm, với nhiều nhà máy thép thực hiện cắt giảm sản xuất và bảo trì. Tâm lý tiêu cực lan sang đè nặng lên giá ferô-crom. Các nhà sản xuất ferô-crom sẽ tiếp tục mua theo nhu cầu, với lượng quặng nhập khẩu vượt tiêu thụ khiến tồn kho cảng ở mức cao; khó có khả năng giảm tồn kho đáng kể trong thời gian tới.

Tuy nhiên, bất ổn địa chính trị gia tăng trên toàn cầu hỗ trợ chi phí khai thác và logistics quặng crom ở nước ngoài, hạn chế dư địa giảm giá mạnh và tạo điều kiện cho giá đi ngang. Các chỉ số theo dõi chính: tiến độ khởi động lại công suất ferô-crom ở Nam Phi, kế hoạch sản xuất thép không gỉ và ferô-crom hạ nguồn, và những thay đổi trong diễn biến địa chính trị vĩ mô toàn cầu.

Tuyên bố về Nguồn Dữ liệu: Ngoại trừ thông tin công khai, tất cả dữ liệu khác được SMM xử lý dựa trên thông tin công khai, giao tiếp thị trường và dựa trên mô hình cơ sở dữ liệu nội bộ của SMM. Chúng chỉ mang tính chất tham khảo và không cấu thành khuyến nghị ra quyết định.

Để biết thêm thông tin hoặc có thắc mắc gì, vui lòng liên hệ: lemonzhao@smm.cn
Để biết thêm thông tin về cách truy cập báo cáo nghiên cứu, vui lòng liên hệ:service.en@smm.cn
Tin Liên Quan
Đánh giá nửa năm thị trường quặng crom 2026: Đảo ngược mô hình cung-cầu, tồn kho tăng vọt và giá chịu áp lực [Phân tích SMM]
3 giờ trước
Đánh giá nửa năm thị trường quặng crom 2026: Đảo ngược mô hình cung-cầu, tồn kho tăng vọt và giá chịu áp lực [Phân tích SMM]
Đọc thêm
Đánh giá nửa năm thị trường quặng crom 2026: Đảo ngược mô hình cung-cầu, tồn kho tăng vọt và giá chịu áp lực [Phân tích SMM]
Đánh giá nửa năm thị trường quặng crom 2026: Đảo ngược mô hình cung-cầu, tồn kho tăng vọt và giá chịu áp lực [Phân tích SMM]
Ngày 10 tháng 7 năm 2026 – Giá quặng crom biến động theo từng giai đoạn rõ rệt trong nửa đầu năm 2026, tăng liên tục trong quý I và giảm dần trong quý II.
3 giờ trước
Tâm lý chờ đợi của thị trường mạnh, mức tăng giá giao ngay hạn chế [SMM SiMn Weekly Review]
4 giờ trước
Tâm lý chờ đợi của thị trường mạnh, mức tăng giá giao ngay hạn chế [SMM SiMn Weekly Review]
Đọc thêm
Tâm lý chờ đợi của thị trường mạnh, mức tăng giá giao ngay hạn chế [SMM SiMn Weekly Review]
Tâm lý chờ đợi của thị trường mạnh, mức tăng giá giao ngay hạn chế [SMM SiMn Weekly Review]
Tính đến thứ Sáu tuần này, giá giao ngay SiMn 6517 tại miền Bắc Trung Quốc ở mức 5.700-5.750 NDT/tấn, tăng so với tuần trước; SiMn 6517 tại miền Nam Trung Quốc ở mức 5.750-5.800 NDT/tấn, tăng so với thứ Sáu tuần trước; và SiMn 6014 tại miền Nam Trung Quốc ở mức 5.450-5.500 NDT/tấn, không đổi so với tuần trước. Gần đây, giá kỳ hạn SiMn suy yếu và đi ngang. Tâm lý chờ đợi trên thị trường khá mạnh, giá giao ngay nhích lên, nhưng giá kỳ hạn khó có thể kéo giá giao ngay tăng mạnh.
4 giờ trước
[SMM Đánh giá Tuần Quặng Mangan] Thị trường nước ngoài giảm sâu trên diện rộng, cùng với nhu cầu yếu, giá quặng mangan chịu áp lực và đình trệ.
5 giờ trước
[SMM Đánh giá Tuần Quặng Mangan] Thị trường nước ngoài giảm sâu trên diện rộng, cùng với nhu cầu yếu, giá quặng mangan chịu áp lực và đình trệ.
Đọc thêm
[SMM Đánh giá Tuần Quặng Mangan] Thị trường nước ngoài giảm sâu trên diện rộng, cùng với nhu cầu yếu, giá quặng mangan chịu áp lực và đình trệ.
[SMM Đánh giá Tuần Quặng Mangan] Thị trường nước ngoài giảm sâu trên diện rộng, cùng với nhu cầu yếu, giá quặng mangan chịu áp lực và đình trệ.
Cảng miền Bắc Trung Quốc: quặng cục Úc 46% ở mức 43-43,5 nhân dân tệ/mtu, giá giảm so với tuần trước; quặng bán cacbonat Nam Phi ở mức 36,5-37 nhân dân tệ/mtu, giá giảm so với tuần trước; quặng Gabon ở mức 40,3-40,7 nhân dân tệ/mtu, giá giảm so với tuần trước; quặng giàu sắt Nam Phi ở mức 30-30,5 nhân dân tệ/mtu, giá giảm so với tuần trước; quặng sắt trung bình Nam Phi ở mức 37-37,5 nhân dân tệ/mtu, giá không đổi so với tuần trước. Cảng miền Nam Trung Quốc: quặng cục Úc 46% ở mức 43,2-43,7 nhân dân tệ/mtu, giá không đổi so với tuần trước; quặng bán cacbonat Nam Phi ở mức 36,8-37,1 nhân dân tệ/mtu, giá tăng so với tuần trước; quặng Gabon ở mức 41-41,5 nhân dân tệ/mtu, giá không đổi so với tuần trước; quặng giàu sắt Nam Phi ở mức 32,3-32,8 nhân dân tệ/mtu, giá giảm so với tuần trước; quặng sắt trung bình Nam Phi ở mức 37-37,5 nhân dân tệ/mtu, giá không đổi so với tuần trước.
5 giờ trước
[Phân tích SMM] Đánh giá thị trường quặng crôm năm 2026: Động lực cung-cầu đảo ngược, tồn kho tăng cao gây sức ép lên giá - Shanghai Metals Market (SMM)