Cập nhật ngày 28/8:
Cảng miền Bắc Trung Quốc: quặng cục Úc 46% ở mức 40–40,5 NDT/mtu, đi ngang so với tuần trước; quặng cục bán cacbonat Nam Phi ở mức 33,9–34,2 NDT/mtu, tăng so với tuần trước; quặng cục Gabon ở mức 39,1–39,5 NDT/mtu, tăng so với tuần trước; quặng Nam Phi hàm lượng Fe cao ở mức 28,5–29 NDT/mtu, đi ngang so với tuần trước; quặng Nam Phi hàm lượng Fe trung bình ở mức 35–35,5 NDT/mtu, đi ngang so với tuần trước.
Cảng miền Nam Trung Quốc: quặng cục Úc 46% ở mức 42,7–43,2 NDT/mtu, đi ngang so với tuần trước; quặng cục bán cacbonat Nam Phi ở mức 36,3–36,8 NDT/mtu, đi ngang so với tuần trước; quặng cục Gabon ở mức 40,6–41,1 NDT/mtu, đi ngang so với tuần trước; quặng Nam Phi hàm lượng Fe cao ở mức 30,2–30,7 NDT/mtu, đi ngang so với tuần trước; quặng Nam Phi hàm lượng Fe trung bình ở mức 38–38,5 NDT/mtu, đi ngang so với tuần trước.
Thị trường quặng mangan miền Bắc Trung Quốc phục hồi nhẹ, trong khi giao dịch tại thị trường quặng mangan miền Nam Trung Quốc khó cải thiện; nhìn chung giá tiếp tục đi ngang trong biên độ.
Phía cung, chào giá của South32 cho Trung Quốc đối với lô hàng giao tháng 10/2026 là 4,2 USD/mtu cho quặng cục bán cacbonat Nam Phi (giảm 0,3) và 4,77 USD/mtu cho quặng cục Úc (giảm 0,23). Consolidated Minerals (CML) công bố chào giá tháng 10/2026 cho Trung Quốc đối với quặng cục Úc ở mức 4,9 USD/mtu, giảm 0,2 USD/mtu so với tháng trước. Chào giá tháng 10/2026 của Comilog cho Trung Quốc đối với quặng cục Gabon là 4,7 USD/mtu (giảm 0,2).Xu hướng giảm trong chào giá tháng 10 của các công ty khai thác cho Trung Quốc không thay đổi, và tâm lý thị trường hiện tại về biến động giá vẫn chưa được kiểm chứng. Nguồn cung từ mỏ ổn định, không có tăng/giảm đáng kể về lượng giao hàng.
Phía cầu,hợp đồng tương lai SiMn đi ngang, tâm lý bi quan của thị trường dịu lại đôi chút và thị trường SiMn phục hồi phần nào, nhưng vẫn khó thúc đẩy mua quặng mangan giao ngay.Thị trường giao ngay: sản xuất hợp kim nhìn chung thua lỗ; tỷ lệ vận hành tại Nội Mông tương đối ổn định, và tâm lý hỏi giá/mua quặng mangan của các nhà máy ở mức trung bình. Các nhà sản xuất tại Ninh Hạ tiếp tục hạn chế và cắt giảm sản lượng như tháng trước, tỷ lệ vận hành thấp và động lực khai thác hạn chế; các nhà máy hợp kim ở miền Nam Trung Quốc có tỷ lệ vận hành tổng thể thấp nhất, chủ yếu mua theo nhu cầu thiết yếu, thị trường trầm lắngỞ giai đoạn này, đa số doanh nghiệp SiMn áp dụng chiến lượcbổ sung tồn kho theo nhu cầu cứng vàmua theo thị trường với lô nhỏ; trong mùa thấp điểm truyền thống, hoạt động thị trường yếu, giao dịch chủ yếu là các lô nhỏ rải rác, và nhu cầu thực tế cận biên đối với quặng mangan vẫn yếu.
Về tồn kho,cảng Thiên Tân tiếp tục tích lũy tồn kho, trong khi cảng Khâm Châu giảm tồn kho nhẹ; nhìn chung tồn kho quặng mangan vẫn ở mức cao, và tồn kho cao kìm hãm động lực tăng giá.
Hiện tại, hỗ trợ từ phía chi phí đối với vùng đáy giá quặng đã suy yếu. Nhu cầu hợp kim ở hạ nguồn trầm lắng, các nhà máy vẫn chỉ bổ sung tồn kho để đáp ứng nhu cầu cứng; cùng với tồn kho cảng cao và hầu như không có kỳ vọng thiếu hụt, giá quặng thiếu động lực tăng. Trong ngắn hạn, giá quặng mangan tại cảng được dự báo sẽ đi ngang.


![[SMM Analysis] This Week's Lithium Battery Recycling Project Construction Progress as Follows (2026.8.24-2026.8.28)](https://imgqn.smm.cn/usercenter/oVqJl20251217171730.jpg)
