Theo số liệu hải quan, xuất khẩu nhôm tấm/băng (bao gồm tấm nhôm, băng nhôm và tấm nhôm-nhựa) của Trung Quốc trong tháng 7/2026 đạt 321.900 tấn. So với tháng trước, xuất khẩu tháng 7 giảm 9,1% so vớii mức 354.000 tấn củatháng 6, giảm khoảgn 32.100 tấn, chấm dứt 3 tháng tăng liên tiếp. So vớii cùng kỳ, xuất khẩu tháng7 tăng 24%. Lũy kế tư tháng 1 đến tháng7/2026 đạt 2,1113 triệu tấn, tăng 19,5% so vớii cùng kỳ.
Xét thoe cấu trúc sản phẩm, xuất khẩu tấm/băng nhôm tháng7 chủ yếu là tấm hợp kim nhôm. Trong số đó, xuất khẩu tấm hợp kim nhôm hình chữ nhậtt có độ dày 0,2-0,28mm (chủ yếudùng chovỏ lon) đạt 139.100 tấn, chiếm 43,2% tổng xuất khẩu tháng7. Tuy nhiên, mức này giảm 9,5% so vớii tháng trước (tháng6: 153.700 tấn), giảm khoảng 14.600 tấn. Lũy kế xuất khẩu sản phẩm này tư tháng1 đến tháng7 đạt 916.400 tấn, chiếm 43,4% tổng xuất khẩu, vẫn là sản phẩm cốt lõi trong xuất khẩu tấm/băng nhôm. Loại thứ hai là các tấm hợp kim nhôm hình chữ nhậtt khác có độ dày 0,35mm-4mm, xuất khẩu tháng7 đạt 62.500 tấn, giảm10,7% so vớii tháng trước; lũy kế tư tháng1-7 đạt 424.200 tấn. Loại thứ ba là các tấm nhôm không hợp kim hình chữ nhật khác (độ dày > 0,2mm), xuất khẩu tháng7 đạt 32.600 tấn, chỉ giảm 1,5% so vớii tháng trước, cho thấyy sức chịu đựng tương đối. Mức giảm ln nhất là tấm hợp kim nhôm hình chữ nhật có độ dày > 4mm, xuất khẩu tháng7 đạt 27.800 tấn, giảm 17,4% so với tháng trước, phản ánh nhu cầu tấm dày nhạy cảm hơn với giá, và khoảng chênh lệch arbitrage thu hẹp sau khii tỷ lệ giá SHFE/LME phục hồi có tác động lớn hơn đến xuất khẩu tấm dày. Nhìn chung, sự suy giảm trên diện rộng ở mọi loại sản phẩm khẳng định nhận định nhu cầu xuất khẩu đã bước vào kênh co hẹp.
Theo quốcc gia, Mexico tiếp tục dẫn đầu vớii 34.900 tấn trong tháng 7, nhưng giảm 22,8% so vớii tháng trước (tháng6: 45.300 tấn), chiếm 10,8% tổng xuất khẩu tháng7. Lũy kế xuất khẩu sang Mexico tư tháng1 đến tháng7 đạt 257.400 tấn, vữn giữvị trí là điểm đến hàng đầu. Mỹ xếp thứ 5, vớii xuất khẩu tháng7 chỉ 16.200 tấn, giảm 37,8% so với tháng trước (tháng6: 26.100 tấn); lũy kế xuất khẩu sang Mỹ tư tháng1-7 đạt tổng cộng 200.300 tấn. Sự sụt giảm mạnh liên tục trong xuất khẩu sang Mỹ là do một nhà máy lốc hàng đầu của Bắc Mỹ đã phục hồi sản xuất hoàn toàn trong tháng7; các đơn hàng vỏ lon và tấm ô tô trước đây chuyển cho các doanh nghiệp có trụ sở tại Trung Quốc do hỏa hoạn đã được thu hồi toàn bộ, chỉ còn khoảng 2.000 tấn còn lại trong tháng8. Trong nửa cuối năm, xuất khẩu sang Mỹ sẽ giảm dần về mức thấp 3.000-5.000 tấn theo chế độ thuế mới. Các thị trường Đông Nam Á cho thấyy sức chịu đựng mạnnh mẽ: Việt Nam (25.000 tấn, -3,8% so vớii tháng trước), Thái Lan (17.300 tấn, +0,3% so vớii tháng trước), và Indonesia (12.100 tấn, +3,8% so vớii tháng trước) tổng cộng 54.400 tấn, chiếm 16,9% xuất khẩu tháng7. Là thị trường cốt lõi truyền thống cho xuất khẩu tấm/băng nhôm, nhu cầu Đông Nam Á vẫn ổn định. Trong số các thị trường mới nổi, Nigeria (10.300 tấn, +16,9% so vớii tháng trước), Thổ Nhĩ Kỳ (9.500 tấn, +12,8% so vớii tháng trước), và Kazakhstan (5.400 tấn, +180,0% so vớii tháng trước) ghi nhận mức tăng đáng kểe so vớii tháng trước.
Trước đó, tỷ lệ giá SHFE/LME nằm trong phạm vi thuận lợi cho xuất khẩu, thúc đẩy tăng trưởng bền vững xuất khẩu trong quý II. Tuy nhiên, tư cuốii tháng7 đến đầu tháng8, tỷ lệ giá SHFE/LME mở rộng đáng kể, ép mạnh biên lợi nhuân xuất khẩu. Trong bốic cảnh này, nếu các nhà máy nhôm Trung Quốc muốn duy trì khả năng cạnh tranh xuất khẩu, họ cầnn tăng phí gia công để bù đắp chho khoảnh cách chênh lệch giữa thị trường Trung Quốc và nước ngoàii. Nhưng tăng phí gia công sẽ tếp tục làmm giảm ý định đặt hàng củakhách hàng bên ngòài Trung Quốc - mâu thuẫn này đã xuất hiện trước tiên ở loạii tấm dày. Nhìn về nửa cuốii năm, xuất khẩu sang Mỹ dự kiến sẽ giảm về mức thấp, vớii áp lực liên tục tư tỷ lệ giá SHFE/LME mở rộng đốii vớii đơn hàng mớii. Xuất khẩu dự kiến sẽ giảm thêm bắt đầu tư tháng8, và xuất khẩu trung bình hàng tháng trong nửa cuối năm sẽ rơi vào khoảng 260.000-300.000 tấn. Nếu tính đến cơ sở vững chắc 2,11 triệu tấn trong tháng1-7, và áp dụng ước tính trung tính cho các tháng còn lại của năm 2026 (trung bình 270.000 tấn/tháng, khoảng 1,35 triệu tấn trong 5 tháng), tổng xuất khẩu cả năm vẫn dự kiến đạt từ 3,4-3,5 triệu tấn, cao hơn 3,07 triệu tấn năm 2025. Mức 3,43 triệu tấn năm 2024 cũng có khả năng bị vượt qua, nhưng sự bùng nổ xuất khẩu trong quý II sẽ khó lặp lại trong nửa cuối năm.

![Xuất khẩu lá nhôm tháng 7 giảm 9,3% so với tháng trước, nhưng mục tiêu cả năm 1,3 triệu tấn vẫn có thể đạt được [Phân tích SMM]](https://imgqn.smm.cn/usercenter/fFkYh20251217171651.jpg)
![Dưới áp lực kép từ phục hồi công suất Bắc Mỹ và chênh lệch giá SHFE/LME ngày càng mở rộng, xuất khẩu nhôm tấm, lá và băng tháng 7 đạt đỉnh rồi giảm [Phân tích SMM]](https://imgqn.smm.cn/usercenter/SUuNM20251217171651.jpg)
