Ferô crôm
Đánh giá giá
Giá ferô crôm không có điều chỉnh trong tuần này.
Tính đến ngày 21 tháng 8 năm 2026:
- Ferô crôm cacbon cao Nội Mông là 7.850–8.000 NDT/đơn vị cơ sở 50 tấn;
- Ferô crôm cacbon cao Tứ Xuyên và Tây Bắc Trung Quốc là 7.950–8.050 NDT/đơn vị cơ sở 50 tấn;
- Ferô crôm cacbon cao Hoa Đông là 8.300–8.400 NDT/đơn vị cơ sở 50 tấn;
- Ferô crôm cacbon cao Kazakhstan là 9.200–9.300 NDT/đơn vị cơ sở 50 tấn;
- Chỉ số kỳ vọng chào thầu thép đối với ferô crôm cacbon cao ghi nhận 8.030,23 NDT/đơn vị cơ sở 50 tấn, với kỳ vọng chủ đạo của thị trường nghiêng về đi ngang hoặc giảm nhẹ.
Phía nhu cầu
Thị trường thép không gỉ hạ nguồn diễn biến yếu trong tuần này. Giá kỳ hạn giảm và giá giao ngay cũng đi theo. Dù mùa cao điểm tiêu thụ truyền thống “Tháng 9 vàng & Tháng 10 bạc” đang đến gần, niềm tin thị trường vẫn trầm lắng. Các nhà máy thép ít sẵn sàng tích trữ trước, và hoạt động hỏi giá cũng như mua ferô crôm chưa phục hồi đáng kể. Phần lớn người tham gia thị trường giữ thái độ chờ đợi và sẽ lập kế hoạch sau khi các nhà máy thép lớn công bố giá chào thầu vào tháng tới.
Phía cung
Sản lượng ferô crôm trong nước cho thấy mức phân hóa Bắc–Nam ngày càng rõ. Các lò luyện ở khu vực phía Nam như Quảng Tây và Quý Châu đã cắt giảm sản lượng do chi phí cao hơn biên lợi nhuận, kéo giảm sản lượng ferô crôm khu vực. Nội Mông ở phía Bắc duy trì vận hành ổn định, sản lượng giữ ở mức cao, và tổng cung ferô crôm vẫn dồi dào. Về nhập khẩu, việc khôi phục sản xuất chưa đủ tại Nam Phi và chi phí cao ở Zimbabwe khiến lượng nhập khẩu thấp, tác động ngắn hạn lên thị trường không đáng kể. Nhìn chung, dư cung là chủ đề cốt lõi và giá ferô crôm được dự báo sẽ duy trì xu hướng yếu trong ngắn hạn.
Quặng crôm
Đánh giá giá
Tính đến ngày 21 tháng 8 năm 2026, báo giá tại cảng Thiên Tân:
- Quặng tinh crôm Nam Phi 40–42% ở mức 53,5–54,5 NDT/dmtu;
- Quặng tinh crôm Zimbabwe 48–50% ở mức 58,5–60 NDT/dmtu;
- Quặng crôm cục Thổ Nhĩ Kỳ 40–42% ở mức 70–71 NDT/dmtu, đi ngang so với tuần trước
Chào hàng nước ngoài:
- Quặng tinh crom 40‑42% Nam Phi ở mức 285 USD/tấn, không đổi so với tuần trước;
- Quặng tinh crom 48‑50% Zimbabwe ở mức 365‑375 USD/tấn, tăng 5 USD so với tuần trước;
- Quặng crom cục 40‑42% Thổ Nhĩ Kỳ ở mức 340‑350 USD/tấn, tăng 10 USD so với tuần trước.
Phía cung
Tồn kho quặng crom tại cảng dao động quanh mức cực cao 5 triệu tấn, khiến nguồn cung dồi dào. Quặng crom mịn Nam Phi có nguồn cung đầy đủ. Các mỏ lớn ở nước ngoài đã giữ nguyên chào hàng trong hai đợt liên tiếp, hỗ trợ giá sàn đồng thời hạn chế đà tăng của giá quặng crom. Nguồn cung quặng crom từ các nguồn chính thống và quặng tinh crom cao cấp đang thắt chặt. Giá cước vận tải biển tăng làm tăng chi phí vận chuyển; giá giao sau từ các mỏ nước ngoài vẫn vững chắc, gia tăng áp lực chi phí cho các thương nhân và củng cố tâm lý giữ giá của họ. Được hỗ trợ bởi các yếu tố trên, giá giao ngay vẫn ổn định trong tuần này trong bối cảnh mặc cả giữa người mua và người bán bế tắc, với các giao dịch thực tế hạn chế.
Phía cầu
Bước vào chu kỳ đấu thầu thép mới, tâm lý chờ đợi chi phối toàn thị trường. Các nhà máy luyện ferrochrome thận trọng và tránh tích trữ dài hạn. Ngoài ra, tình trạng dư cung ferrochrome gây áp lực lên giá ferrochrome. Các nhà máy luyện chịu áp lực lớn về chi phí sản xuất và áp lực thanh lý tồn kho, thể hiện hạn chế trong việc mua quặng crom nguyên liệu và không có hoạt động mua số lượng lớn nào diễn ra. Chỉ có các giao dịch nhỏ lẻ được thực hiện trong tuần này, ngăn chặn biến động giá mạnh.
![Tâm lý bi quan trên thị trường đã giảm nhẹ, nhưng tâm lý chờ đợi vẫn chi phối [Đánh giá tuần SiMn của SMM]](https://imgqn.smm.cn/usercenter/UhBXJ20251217171724.jpeg)
![[Đánh giá hàng tuần quặng mangan SMM] Thị trường miền Bắc Trung Quốc phục hồi nhẹ, trong khi thị trường miền Nam Trung Quốc cải thiện không đáng kể.](https://imgqn.smm.cn/usercenter/teIej20251217171724.jpeg)

