Tin ngày 21/8:
Cảng miền Bắc: quặng cục Úc 46% ở mức 40–40,5 NDT/mtu, đi ngang so với tuần trước; quặng cục bán carbonat Nam Phi ở mức 33,5–34 NDT/mtu, tăng so với tuần trước; quặng cục Gabon ở mức 38,6–39 NDT/mtu, tăng so với tuần trước; quặng Nam Phi hàm lượng Fe cao ở mức 28,5–29 NDT/mtu, đi ngang so với tuần trước; quặng Nam Phi hàm lượng Fe trung bình ở mức 35–35,5 NDT/mtu, đi ngang so với tuần trước.
Cảng miền Nam: quặng cục Úc 46% ở mức 42,7–43,2 NDT/mtu, giảm so với tuần trước; quặng cục bán carbonat Nam Phi ở mức 36,3–36,8 NDT/mtu, đi ngang so với tuần trước; quặng cục Gabon ở mức 40,6–41,1 NDT/mtu, đi ngang so với tuần trước; quặng Nam Phi hàm lượng Fe cao ở mức 30,2–30,7 NDT/mtu, giảm so với tuần trước; quặng Nam Phi hàm lượng Fe trung bình ở mức 38–38,5 NDT/mtu, đi ngang so với tuần trước.
Thị trường quặng mangan miền Bắc phục hồi nhẹ, trong khi giao dịch tại thị trường quặng mangan miền Nam Trung Quốc vẫn khó cải thiện; nhìn chung giá tiếp tục đi ngang trong biên độ.
Phía cung, Consolidated Minerals Limited (CML) công bố chào giá tháng 9/2026 cho Trung Quốc: quặng cục Úc Mn>46% Fe<4% Si02<18% ở mức 5,1 USD/mtu, giảm 0,2 USD/mtu so với tháng trước. Chào giá lô hàng tháng 9/2026 của South32 cho Trung Quốc là 4,5 USD/mtu đối với quặng cục bán carbonat Nam Phi (giảm 0,25) và 5 USD/mtu đối với quặng cục Úc (giảm 0,1). Giá bốc hàng tháng 9/2026 của Comilog cho Trung Quốc đối với quặng cục Gabon là 4,9 USD/mtu (giảm 0,2). UMK công bố chào giá tháng 9/2026 cho Trung Quốc đối với quặng cục bán carbonat Nam Phi ở mức 4,1 USD/mtu (giảm 0,4). Jupiter công bố giá bốc hàng tháng 9/2026 cho Trung Quốc: quặng cục bán carbonat Nam Phi Mn 36,5% ở mức 4,1 USD/mtu (giảm 0,5). NMT công bố chào giá bốc hàng tháng 9/2026 cho Trung Quốc: quặng cục bán carbonat Nam Phi Mn 36% (tối thiểu) ở mức 4,1 USD/mtu (giảm 0,5).Các mỏ lần lượt đưa ra chào giá cho Trung Quốc; nguồn cung duy trì ổn định, lượng giao hàng không tăng hoặc giảm đáng kể.
Phía cầu, hợp đồng tương lai SiMn nhích lên, tâm lý bi quan của thị trường giảm nhẹ và thị trường SiMn phục hồi phần nào, nhưng vẫn khó thúc đẩy hoạt động mua quặng mangan giao ngayThị trường giao ngay: sản xuất hợp kim nhìn chung thua lỗ; tỷ lệ vận hành tại Nội Mông tương đối ổn định, và tâm lý hỏi giá, mua quặng mangan của các nhà máy ở mức trung bình. Các nhà sản xuất tại Ninh Hạ tiếp tục hạn chế sản lượng và cắt giảm sản xuất như tháng trước, tỷ lệ vận hành thấp và mức sẵn sàng khai thác hạn chế; các nhà máy hợp kim ở Nam Trung Quốc có tỷ lệ vận hành tổng thể thấp nhất, chủ yếu mua theo nhu cầu thiết yếu, giao dịch thị trường trầm lắng. Ở giai đoạn hiện tại, đa số doanh nghiệp SiMn áp dụng chiến lược thu mua bổ sung tồn kho theo nhu cầu và đặt đơn nhỏ theo thị trường. Trong mùa thấp điểm truyền thống, hoạt động giao dịch thị trường tương đối yếu, giao dịch chủ yếu là các đơn nhỏ rải rác, và nhu cầu thực tế đối với quặng mangan nhìn chung vẫn yếu.
Về tồn kho, cảng Thiên Tân tiếp tục tích lũy tồn kho, trong khi cảng Khâm Châu giảm tồn nhẹ, khiến tổng tồn kho quặng mangan vẫn ở mức tương đối cao; tồn kho cao kìm hãm động lực tăng giá.
Hiện tại, hỗ trợ từ phía chi phí đối với đáy giá quặng đã suy yếu, nhu cầu hợp kim hạ nguồn yếu, các nhà máy vẫn chỉ bổ sung theo nhu cầu, cộng thêm tồn kho cảng cao khiến về cơ bản không có kỳ vọng thiếu hàng, nên giá quặng thiếu động lực tăng. Trong ngắn hạn, giá quặng mangan tại cảng dự kiến đi ngang.



