Những điểm chính: Tháng 7 năm 2026, Trung Quốc chỉ nhập khẩu 17.000 tấn quặng phosphate, giảm 87,3% so với tháng trước, chạm mức thấp nhất trong gần ba năm; xuất khẩu giảm xuống 0. Giá nhập khẩu trung bình là 84,5 USD/tấn, giảm 7,6% so với tháng trước. Trong số các tỉnh nhập khẩu, chỉ có Quảng Tây duy trì 14.000 tấn, còn các tỉnh khác giảm xuống 0; sản lượng từ nước nguồn Ai Cập giảm mạnh 81%, trong khi Kazakhstan tăng nhẹ. Xuất khẩu tăng vọt vào tháng 6 nhưng giảm xuống 0 vào tháng 7, chủ yếu do thực hiện đơn hàng, nhu cầu trái vụ và chính sách quản lý. Nhập khẩu khó phục hồi trong ngắn hạn; cần theo dõi tích trữ mùa đông và thay đổi chính sách xuất khẩu.
I. Tổng nhập khẩu: 17.000 tấn, giảm 87,3% so với tháng trước, đạt mức thấp định kỳ mới
Tháng 7 năm 2026, Trung Quốc chỉ nhập khẩu 17.000 tấn quặng phosphate, giảm 87,3% so với tháng trước từ 137.000 tấn của tháng 6.
Nhìn vào xu hướng hàng tháng, nhập khẩu đã giảm mạnh như vách đá. Tháng 1 năm 2026, khối lượng trong tháng là 243.900 tấn, đạt đỉnh nửa đầu năm; tháng 4 với 206.600 tấn và tháng 3 với 182.100 tấn vẫn ở mức cao; tháng 5 giảm mạnh xuống 131.000 tấn do tác động từ chính sách của Ai Cập; tháng 6 phục hồi nhẹ lên 137.000 tấn; sau đó tháng 7 lại giảm sâu xuống 17.000 tấn, mức nhập khẩu hàng tháng thấp nhất trong gần ba năm.
Các yếu tố hạn chế cốt lõi đằng sau sự suy giảm này bao gồm giá lưu huỳnh duy trì ở mức cao, nhu cầu yếu từ các nhà sản xuất phân bón photphat, và sự chậm lại trong mua sắm của Trung Quốc trong mùa thấp điểm. Tháng 7, các mỏ quặng phosphate thượng nguồn tại Trung Quốc bị gián đoạn do bảo vệ môi trường, giám sát an toàn và gia hạn giấy phép khai thác; phía cung tiếp tục có kỳ vọng thu hẹp. Tuy nhiên, nhu cầu phân bón photphat truyền thống hạ nguồn đang trong mùa thấp điểm, giao dịch tổng thể trì trệ.

II. Giá trị nhập khẩu và giá trung bình: Tổng giá trị giảm xuống 1,479 triệu USD, giá trung bình 84,5 USD/tấn
Về giá trị nhập khẩu, tổng giá trị nhập khẩu quặng phosphate tháng 7 chỉ đạt 1,479 triệu USD, giảm 88,2% so với tháng trước so với 12,567 triệu USD của tháng 6, về cơ bản tương ứng với mức giảm khối lượng nhập khẩu.
Về giá nhập khẩu trung bình, giá trung bình toàn quốc tháng 7 là 84,5 USD/tấn, giảm 7,6% so với tháng trước từ 91,5 USD/tấn của tháng 6.
III. Cơ cấu tỉnh nhập khẩu: Chỉ riêng Quảng Tây trụ vững, các tỉnh khác gần như giảm xuống 0
Cơ cấu nhập khẩu theo tỉnh cho thấy sự thu hẹp toàn diện trong tháng 7, nhập khẩu từ tất cả các tỉnh ngoại trừ Quảng Tây về cơ bản giảm xuống 0.

3.1 Quảng Tây: Khối lượng nhập khẩu 14.000 tấn (giảm 82,8% so với tháng trước), giá trị nhập khẩu 1,232 triệu USD (giảm 83,6% so với tháng trước), đơn giá 85,5 USD/tấn (giảm 4,8% so với tháng trước). Mặc dù giảm đáng kể so với tháng trước, Quảng Tây vẫn là tỉnh duy trì khối lượng nhập khẩu đáng kể, tiếp tục lợi thế bốc dỡ truyền thống cho các nguồn từ Bắc Phi và Trung Đông như Ai Cập và Jordan.
3.1 Tổng các tỉnh khác: Khối lượng nhập khẩu chỉ 3.000 tấn (giảm 19,7% so với tháng trước), giá trị nhập khẩu 245.000 USD (giảm 15,9% so với tháng trước), đơn giá 79,2 USD/tấn.
Hồ Bắc, Vân Nam, Chiết Giang, Thượng Hải, Bắc Kinh và Sơn Đông: nhập khẩu đều trở về 0 trong tháng 7. Trong đó, Chiết Giang sau khi tăng đột biến khoảng 89 lần so với tháng trước lên 48.000 tấn vào tháng 6, đã trở về 0 vào tháng 7; Bắc Kinh duy trì nhập khẩu lô nhỏ với đơn giá cao 934,5 USD/tấn vào tháng 6, cũng trở về 0 vào tháng 7.
Các tỉnh nhập khẩu đã đột ngột chuyển từ phân bổ đa dạng trong tháng 6 (Quảng Tây, Chiết Giang, Sơn Đông, v.v.) sang “chỉ còn Quảng Tây” trong tháng 7, phản ánh sự co hẹp toàn diện ở phía mua của khâu hạ nguồn trong bối cảnh nhu cầu trái vụ.
4. Bức tranh quốc gia nguồn nhập khẩu: Ai Cập chiếm ưu thế nhưng quy mô lao dốc

Dữ liệu quốc gia nguồn trong tháng 7 có mức độ nhất quán cao với dữ liệu theo tỉnh. Tháng 6, Ai Cập với 84.000 tấn (chiếm khoảng 61%) và Jordan với 48.000 tấn là các quốc gia nguồn chính; sang tháng 7, tổng khối lượng sụt xuống còn 17.000 tấn, quy mô nhập khẩu từ tất cả các quốc gia nguồn đồng loạt giảm:
Ai Cập:16.000 tấn (giảm 81,1% MoM), giá trị nhập khẩu 1,361 triệu USD (giảm 81,9% MoM), đơn giá 86,3 USD/tấn (giảm 3,9% MoM)
Kazakhstan:2.000 tấn (tăng 82.137,8% MoM), giá trị nhập khẩu 117.000 USD (tăng 1.817,0% MoM), đơn giá 67,5 USD/tấn (giảm 97,7% MoM)
Các quốc gia khác:nhập khẩu nhỏ, không đáng kể
Dù tỷ trọng của Ai Cập vẫn áp đảo, khối lượng tuyệt đối đã thu hẹp từ 84.000 tấn trong tháng 6 xuống 16.000 tấn, giảm 81%. Kỳ vọng trước đó của thị trường rằng “các nguồn cung thay thế như Jordan và Morocco sẽ tiếp tục tăng” đã không xảy ra trong tháng 7; việc tất cả quốc gia nguồn cùng co lại cho thấy nguyên nhân chính là sự suy giảm phía cầu, chứ không đơn thuần là dịch chuyển nguồn cung theo quốc gia.
5. Xuất khẩu: Trở về 0 trong tháng 7 sau khi tăng vọt tháng 6

Tháng 7/2026, xuất khẩu quặng phốt phát của Trung Quốc bằng 0, giảm 100% MoM so với 51.000 tấn trong tháng 6.
Mức xuất khẩu 51.000 tấn trong tháng 6 là đỉnh H1, chủ yếu được thúc đẩy bởi “hiệu ứng cơ hội cuối” sau khi Ai Cập công bố ngày 13/5 rằng sẽ ngừng ký hợp đồng xuất khẩu quặng phốt phát mới, khiến các doanh nghiệp trong nước gấp rút hoàn tất giao hàng tập trung cho các đơn xuất khẩu trước khi cửa sổ đóng lại. Trong cơ cấu xuất khẩu tháng 6, Vân Nam vươn lên dẫn đầu với 34.000 tấn (tháng 5 không xuất khẩu), và Phúc Kiến xuất 17.000 tấn (tăng 158,5% MoM).
Bước sang tháng 7, khi việc giao hàng cho các đơn trước đó hoàn tất, xuất khẩu dừng hẳn. Ngoài ra, trong tháng 7, quặng phốt phát của Trung Quốc chịu tác động từ các yếu tố nhiễu như bảo vệ môi trường, giám sát an toàn và gia hạn giấy chứng nhận quyền khai thác, làm gia tăng kỳ vọng co hẹp phía cung; nhu cầu phân lân truyền thống ở hạ nguồn đang vào mùa thấp điểm; cùng với quản lý cấp phép xuất khẩu quặng phốt phát của Bộ Thương mại và kỳ vọng tăng cường kiểm soát khoáng sản chiến lược, nhiều yếu tố đồng thời khiến xuất khẩu quay về 0 trong tháng 7.
SMM trước đó dự báo xuất khẩu giai đoạn tháng 7–9 vào khoảng 100.000–200.000 tấn, nhưng dựa trên dữ liệu thực tế tháng 7, tốc độ phục hồi xuất khẩu có thể chậm hơn kỳ vọng. Cần theo dõi sát chính sách xuất khẩu và mức độ phục hồi đơn hàng trong tháng 8–9.
VI. Tóm tắt
Phía nhập khẩu:Tổng khối lượng 17.000 tấn giảm 87,3% so với tháng trước, chạm mức thấp nhất trong kỳ; giá nhập khẩu trung bình $84,5/tấn giảm 7,6% so với tháng trước; cơ cấu tỉnh đột ngột thay đổi từ phân bố đa dạng hóa vào tháng 6 sang tình trạng chỉ có Quảng Tây hỗ trợ nhập khẩu, trong khi Hồ Bắc, Chiết Giang, Bắc Kinh,… đều giảm về 0; các nước nguồn cũng thu hẹp đồng thời, với Ai Cập vẫn chiếm ưu thế nhưng quy mô tuyệt đối giảm 81%.
Phía xuất khẩu:Sau đợt tăng đột biến 51.000 tấn vào tháng 6, xuất khẩu giảm thẳng về 0 trong tháng 7, do sự kết hợp của nhiều yếu tố bao gồm hoàn thành giao hàng các đơn hàng trước, thu hẹp nguồn cung trong nước, nhu cầu trái mùa và các biện pháp kiểm soát xuất khẩu.
Triển vọng thị trường: Trong ngắn hạn, nhập khẩu khó có thể phục hồi đáng kể, do tỷ lệ vận hành thấp của các nhà máy sản xuất phân bón photphat hạ nguồn tiếp tục kìm hãm nhu cầu mua sắm. Về phía xuất khẩu, cần chú ý đến những thay đổi nhu cầu biên do việc thực hiện các chính sách xuất khẩu đối với TSP và SSP vào tháng 8, cũng như tốc độ mua sắm dự trữ mùa đông trong nửa cuối năm. Cả năm, nhập khẩu trong nửa đầu năm đã đạt 998.200 tấn; ngay cả khi tốc độ chậm lại trong nửa cuối năm, tổng khối lượng nhập khẩu hàng năm vẫn ở mức tương đối cao. Về phía xuất khẩu, xuất khẩu tích lũy trong nửa đầu năm đạt 133.900 tấn, tăng 226% so với cùng kỳ năm ngoái; liệu xuất khẩu có thể phục hồi sản lượng trong nửa cuối năm hay không sẽ phụ thuộc vào cân bằng cung cầu trong nước và định hướng chính sách.
Lưu ý: Nếu bạn có bổ sung nào cho các chi tiết được đề cập trong bài viết này hoặc quan tâm đến các vấn đề liên quan đến hóa chấ photpho (quặng photphat, photphat sắt, LFP, v.v.) và pin thể rắn, vui lòng liên hệ với chúng tôi. Thông tin liên hệ:
Điện thoại: 021-20707860 (hoặc thêm WeChat: 13585549799), Yang Chaoxing. Xin cảm ơn!
![[Báo cáo tuần quặng mangan SMM] Thị trường giao ngay phục hồi, thương nhân ngày càng găm hàng không bán](https://imgqn.smm.cn/usercenter/rUQIB20251217171723.jpeg)

![[Ô tô Trường An: Doanh số tháng 8 đạt 196.800 xe, doanh số xe năng lượng mới tăng 12,98% so với cùng kỳ]](https://imgqn.smm.cn/usercenter/QBuyW20251217171726.jpg)
