Số liệu từ Cục Thống kê Quốc gia (NBS) cho thấy, trong tháng 7, do ảnh hưởng bởi các yếu tố nhập khẩu, Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) giảm 0,1% so với tháng trước và tăng 0,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Loại trừ giá thực phẩm và năng lượng, CPI lõi tăng 0,3% so với tháng trước và 0,9% so với cùng kỳ. Nhìn chung, CPI duy trì mức tăng nhẹ. Nhu cầu ở một số ngành trong nước tăng, nhưng do ảnh hưởng bởi các yếu tố nhập khẩu và thời vụ, Chỉ số giá sản xuất (PPI) giảm 0,7% so với tháng trước và tăng 3,5% so với cùng kỳ, tốc độ tăng thu hẹp 0,6 điểm phần trăm so với tháng trước. Vào tháng 7/2026, giá sản xuất của Trung Quốc tăng 3,5% so với cùng kỳ và giảm 0,7% so với tháng trước. Giá mua vào của nhà sản xuất công nghiệp tăng 5,5% so với cùng kỳ và giảm 1,0% so với tháng trước. Trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 7, PPI tăng 1,8% so với cùng kỳ và giá mua vào của nhà sản xuất công nghiệp tăng 2,8% so với cùng kỳ. Bà Đổng Lệ Quyên, Chuyên viên Thống kê trưởng Vụ Đô thị của NBS, đã phân tích số liệu CPI và PPI tháng 7/2026.
Tháng 7/2026, giá tiêu dùng tăng 0,5% so với cùng kỳ
Tại tháng 7/2026, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả nước tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, CPI khu vực thành thị tăng 0,5%, khu vực nông thôn tăng 0,4%; giá thực phẩm giảm 1,5%, giá phi thực phẩm tăng 0,9%; giá hàng tiêu dùng tăng 0,2% và giá dịch vụ tăng 0,7%. Tính chung giai đoạn tháng 1-7, CPI cả nước tăng bình quân 0,9% so với cùng kỳ.
Trong tháng 7, CPI cả nước giảm 0,1% so với tháng trước. Cụ thể, CPI thành thị giảm 0,1%, nông thôn giảm 0,2%; giá thực phẩm đi ngang, giá phi thực phẩm giảm 0,1%; giá hàng tiêu dùng giảm 0,6%, trong khi giá dịch vụ tăng 0,4%.

1. Biến động giá so với cùng kỳ của các loại hàng hóa và dịch vụ
Tại tháng 7, giá nhóm thực phẩm, thuốc lá, rượu bia và ăn uống ngoài gia đình giảm 0,8% so với cùng kỳ, kéo CPI giảm khoảng 0,22 điểm phần trăm. Trong các mặt hàng thực phẩm, giá thịt gia súc giảm 6,0%, kéo CPI giảm khoảng 0,25 điểm phần trăm, trong đó giá thịt lợn giảm 13,3%; giá sữa và các sản phẩm từ sữa giảm 1,5%, kéo CPI giảm khoảng 0,02 điểm phần trăm; giá trái cây tươi giảm 1,1%, kéo CPI giảm khoảng 0,02 điểm phần trăm; giá trứng tăng 14,4%, đẩy CPI tăng khoảng 0,07 điểm phần trăm.
Giá của bảy nhóm hàng còn lại ghi nhận sáu nhóm tăng và một nhóm giảm so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, giá các mặt hàng và dịch vụ khác và y tế tăng lần lượt 5,8% và 2,9%; giá may mặc và giáo dục, văn hóa và giải trí tăng lần lượt 1,4% và 1,3%; giá đồ gia dụng và dịch vụ và giao thông liên lạc tăng lần lượt 0,8% và 0,4%; trong khi giá nhà ở giảm 0,3%.

II. Biến động giá các mặt hàng và dịch vụ so với tháng trước
Trong tháng 7, giá nhóm thực phẩm, thuốc lá, rượu và ăn uống ngoài gia đình không thay đổi so với tháng trước. Trong các mặt hàng thực phẩm, giá thịt gia súc tăng 1,9%, đóng góp khoảng 0,07 điểm phần trăm vào mức tăng CPI, trong đó giá thịt lợn tăng 4,1%; giá rau tươi tăng 1,3%, đóng góp khoảng 0,02 điểm phần trăm vào mức tăng CPI; giá trái cây tươi giảm 3,8%, kéo CPI giảm khoảng 0,07 điểm phần trăm; giá trứng giảm 1,7%, kéo CPI giảm khoảng 0,01 điểm phần trăm.
Đối với bảy nhóm hàng chính còn lại, ba nhóm tăng so với tháng trước, hai nhóm không thay đổi và hai nhóm giảm. Cụ thể, giá giáo dục, văn hóa và giải trí; y tế; và đồ gia dụng và dịch vụ tăng lần lượt 1,0%, 0,8% và 0,4%; giá nhà ở và hàng hóa, dịch vụ khác đều không thay đổi; giá giao thông liên lạc và may mặc giảm lần lượt 2,2% và 0,4%.


Tháng 7 năm 2026, Giá sản xuất công nghiệp xuất xưởng tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước
Trong tháng 7 năm 2026, giá sản xuất công nghiệp xuất xưởng cả nước tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước nhưng giảm 0,7% so với tháng trước. Giá mua vào của nhà sản xuất công nghiệp tăng 5,5% so với cùng kỳ nhưng giảm 1,0% so với tháng trước. Tính trung bình từ tháng 1 đến tháng 7, giá sản xuất công nghiệp xuất xưởng tăng 1,8% so với cùng kỳ năm ngoái, và giá mua vào tăng 2,8%.


I. Biến động giá sản xuất công nghiệp so với cùng kỳ năm trước
Trong tháng 7, trong giá sản xuất công nghiệp xuất xưởng, giá tư liệu sản xuất tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp khoảng 3,72 điểm phần trăm vào mức tăng chung của giá sản xuất công nghiệp xuất xưởng. Cụ thể, giá ngành khai thác tăng 16,4%, giá ngành nguyên vật liệu tăng 6,1%, và giá ngành chế biến tăng 3,1%. Giá hàng tiêu dùng giảm 0,8%, kéo giá sản xuất công nghiệp xuất xưởng giảm khoảng 0,17 điểm phần trăm. Trong đó, giá thực phẩm giảm 2,1%, giá quần áo giảm 1,1%, giá hàng tiêu dùng hàng ngày giảm 1,0% và giá hàng tiêu dùng lâu bền tăng 0,4%.


Trong giá thu mua của nhà sản xuất công nghiệp, giá vật liệu kim loại màu và dây điện tăng 19,0%, giá nhiên liệu, điện và nguyên liệu hóa chất đều tăng 9,3%, giá nguyên liệu dệt tăng 3,2%, giá vật liệu kim loại đen tăng 1,4%; giá vật liệu xây dựng và sản phẩm khoáng sản phi kim loại giảm 4,1%, giá nông sản và phụ phẩm giảm 0,8%.
II. Biến động giá sản xuất công nghiệp so với tháng trước
Trong tháng 7, trong giá xuất xưởng của nhà sản xuất công nghiệp, giá tư liệu sản xuất giảm 0,9% so với tháng trước, kéo tổng mức giá xuất xưởng của nhà sản xuất công nghiệp giảm khoảng 0,7 điểm phần trăm. Trong đó, giá ngành khai khoáng giảm 0,2%, giá ngành nguyên liệu giảm 2,4%, giá ngành chế biến giảm 0,1%. Giá hàng tiêu dùng giảm 0,1%, kéo tổng mức giá xuất xưởng của nhà sản xuất công nghiệp giảm khoảng 0,01 điểm phần trăm. Trong số đó, giá thực phẩm và hàng tiêu dùng lâu bền đều ổn định, giá quần áo giảm 0,3%, giá hàng tiêu dùng hàng ngày giảm 0,2%.
Trong giá thu mua của nhà sản xuất công nghiệp, giá nhiên liệu, điện và nguyên liệu hóa chất đều giảm 2,6%, giá vật liệu kim loại màu và dây điện giảm 1,4%, giá vật liệu kim loại đen và nguyên liệu dệt đều giảm 0,2%, giá vật liệu xây dựng và các mặt hàng phi kim loại giảm 0,1%; giá nông sản và phụ phẩm tăng 0,5%.

Tháng 7 năm 2026, CPI duy trì tăng trưởng nhẹ, tăng trưởng PPI so với cùng kỳ thu hẹp phần nào
— Đổng Lệ Quyên, Thống kê trưởng thuộc Vụ Đô thị, Cục Thống kê Quốc gia, giải thích số liệu CPI và PPI tháng 7 năm 2026
Trong tháng 7, do các yếu tố quốc tế nhập khẩu, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) giảm 0,1% so với tháng trước và tăng 0,5% so với cùng kỳ năm ngoái; CPI lõi không bao gồm giá thực phẩm và năng lượng tăng 0,3% so với tháng trước và 0,9% so với cùng kỳ năm ngoái, CPI tổng thể duy trì tăng trưởng nhẹ. Nhu cầu trong nước tăng ở một số lĩnh vực, nhưng do các yếu tố nhập khẩu và mùa vụ, chỉ số giá xuất xưởng của nhà sản xuất công nghiệp (PPI) giảm 0,7% so với tháng trước và tăng 3,5% so với cùng kỳ năm ngoái, mức tăng trưởng giảm 0,6 điểm phần trăm so với tháng trước.
1. Mức giảm CPI so với tháng trước thu hẹp, mức tăng so với cùng kỳ vẫn ở mức nhẹ
So với tháng trước, CPI cả nước giảm 0,1%, mức giảm thu hẹp 0,2 điểm phần trăm so với tháng trước đó. Biến động giá thị trường quốc tế khiến giá xăng trong nước giảm 10,7%, mức giảm mở rộng thêm 5,8 điểm phần trăm so với tháng trước, đẩy CPI so với tháng trước giảm khoảng 0,35 điểm phần trăm. Giá thực phẩm không thay đổi so với tháng trước, thấp hơn mức theo mùa 0,6 điểm phần trăm. Trong nhóm thực phẩm, giá rau tươi tăng 1,3% và giá trứng giảm 2,1%, đều thấp hơn đáng kể so với mức theo mùa; do trái cây theo mùa vào thị trường với số lượng lớn và nguồn cung dồi dào, giá trái cây tươi giảm 3,8%, đẩy CPI so với tháng trước giảm khoảng 0,07 điểm phần trăm. Tác động của các chính sách kiểm soát tổng thể năng lực sản xuất lợn trở nên rõ rệt, cùng với tần suất xuất hiện thời tiết cực đoan như nắng nóng cao và mưa lớn ở một số khu vực, đã đẩy chi phí vận chuyển tăng, khiến giá thịt lợn chuyển từ mức giảm 0,8% của tháng trước sang tăng 4,1%, đẩy CPI so với tháng trước tăng khoảng 0,07 điểm phần trăm. Dưới sự thúc đẩy của trí tuệ nhân tạo, thiết bị điện tử tiêu dùng trải qua các đợt nâng cấp, thúc đẩy nhu cầu và giá cả các sản phẩm liên quan. Giá máy tính bảng, máy tính và điện thoại di động lần lượt tăng 11,3%, 5,5% và 1,0%, góp phần đẩy CPI so với tháng trước tăng khoảng 0,03 điểm phần trăm. Giá dịch vụ chuyển từ không thay đổi tháng trước sang tăng 0,4%, đóng góp khoảng 0,21 điểm phần trăm vào mức tăng CPI so với tháng trước. Trong nhóm dịch vụ, được thúc đẩy bởi nhu cầu du lịch hè tăng cao, giá phí đại lý du lịch, lưu trú khách sạn, vé máy bay và thuê xe lần lượt tăng 7,2%, 6,5%, 4,2% và 3,6%, góp phần chung khoảng 0,1 điểm phần trăm vào mức tăng CPI so với tháng trước. Việc điều chỉnh giá do chính sách thúc đẩy ở một số khu vực tiếp tục được triển khai, với giá dịch vụ y tế tăng 1,1%, đóng góp khoảng 0,07 điểm phần trăm vào mức tăng CPI so với tháng trước.
So với cùng kỳ năm trước, CPI cả nước tăng 0,5%, duy trì mức tăng nhẹ. Tỷ lệ lạm phát CPI so với cùng kỳ thu hẹp 0,5 điểm phần trăm so với tháng trước, chủ yếu do tốc độ tăng giá xăng giảm. Giá xăng tăng 1,0%, mức tăng thu hẹp 16 điểm phần trăm so với tháng trước, làm giảm tác động tăng CPI khoảng 0,45 điểm phần trăm so với tháng trước, kéo mức tăng giá năng lượng xuống còn 0,6%. Giá hàng tiêu dùng công nghiệp không bao gồm năng lượng tăng 1,5%, mức tăng thu hẹp 0,2 điểm phần trăm so với tháng trước, đóng góp khoảng 0,37 điểm phần trăm vào mức tăng CPI so cùng kỳ năm trước. Trong đó, giá vàng trang sức, sản phẩm chăm sóc cá nhân và thiết bị gia dụng tăng lần lượt 24,6%, 1,7% và 0,2%, các mức tăng đều thu hẹp, cùng đóng góp khoảng 0,13 điểm phần trăm vào mức tăng CPI so cùng kỳ; giá máy tính, máy tính bảng và điện thoại di động tăng lần lượt 17,4%, 17,2% và 8,5%, các mức tăng đều mở rộng, cùng đóng góp khoảng 0,14 điểm phần trăm. Giá dịch vụ tăng 0,7%, mức tăng thu hẹp 0,1 điểm phần trăm so với tháng trước, đóng góp khoảng 0,36 điểm phần trăm vào mức tăng CPI so cùng kỳ. Trong nhóm dịch vụ, giá dịch vụ y tế tăng 4,3%, mức tăng mở rộng 0,9 điểm phần trăm so với tháng trước, đóng góp khoảng 0,28 điểm phần trăm; giá dịch vụ giúp việc nhà, ăn uống ngoài gia đình và dịch vụ giáo dục tăng lần lượt 1,3%, 1,0% và 0,6%, các mức tăng nhìn chung ổn định. Giá thực phẩm giảm 1,5%, mức giảm thu hẹp 0,1 điểm phần trăm so với tháng trước, kéo CPI so cùng kỳ giảm khoảng 0,25 điểm phần trăm. Trong nhóm thực phẩm, giá thịt lợn giảm 13,3%, mức giảm thu hẹp 2,6 điểm phần trăm so với tháng trước, kéo CPI so cùng kỳ giảm khoảng 0,25 điểm phần trăm; mức giảm giá của rau tươi, hoa quả tươi, lương thực, dầu ăn và các sản phẩm từ sữa dao động từ 0,3% đến 1,5%; giá trứng tăng 17,8%, mức tăng thu hẹp 2,2 điểm phần trăm so với tháng trước; giá thịt cừu, thịt bò và thịt gia cầm tăng từ 1,6% đến 6,2%.
II. PPI giảm so với tháng trước, mức tăng so cùng kỳ thu hẹp
Xét theo tháng, PPI toàn quốc giảm 0,7%, mức giảm mở rộng 0,4 điểm phần trăm so với tháng trước. Đặc điểm chính của diễn biến PPI tháng này: Thứ nhất, yếu tố nhập khẩu kéo giảm giá trong các ngành liên quan trong nước. Giá khai thác dầu thô, sản xuất sản phẩm dầu mỏ tinh chế và sản xuất nguyên liệu hóa chất hữu cơ giảm lần lượt 11,8%, 8,4% và 4,2%. Giá khai thác và tuyển quặng kim loại màu, luyện và cán kim loại màu giảm lần lượt 2,1% và 1,7%. Năm ngành này cộng lại đóng góp khoảng 0,65 điểm phần trăm vào mức giảm PPI so với tháng trước. Thứ hai, yếu tố mùa vụ khiến giá một số ngành giảm. Trong tháng 7, nhiệt độ cao, mưa lớn và bão lũ xuất hiện thường xuyên, làm chậm tiến độ các công trình xây dựng. Giá của ngành luyện kim đen, cán kéo kim loại và các sản phẩm khoáng phi kim loại lần lượt giảm 0,8% và 0,5%. Sản lượng thủy điện và điện gió tăng, khiến giá của hai ngành này lần lượt giảm 10,3% và 3,9%. Bốn ngành này cộng lại đóng góp khoảng 0,11 điểm phần trăm vào mức giảm PPI so với tháng trước. Thứ ba, chuyển đổi và nâng cấp công nghiệp, cùng với việc nâng cao và mở rộng chất lượng tiêu dùng, đã thúc đẩy nhu cầu và giá cả ở một số ngành. Các động lực tăng trưởng mới mở rộng và vững mạnh hơn, với các ngành như AI, thiết bị cao cấp, vật liệu mới phát triển khởi sắc. Giá các ngành sản xuất máy bay không người lái thông minh, vật liệu mới gốc cacbon, và sản xuất tàu thủy cùng thiết bị liên quan lần lượt tăng 2,5%, 0,4% và 0,3%. Tiêu dùng hàng hóa chất lượng cao tăng khá nhanh, giá sản xuất thiết bị tiêu dùng nhà thông minh và mỹ phẩm dưỡng da tăng 3,4% và 0,7%.
So với cùng kỳ năm trước, PPI cả nước tăng 3,5%, tốc độ tăng trưởng chậm lại 0,6 điểm phần trăm so với tháng trước. Xét theo ngành, trong số các ngành có mức tăng giá chính, giá khai thác dầu khí tự nhiên, chế biến dầu mỏ, than và các nhiên liệu khác, và sản xuất nguyên liệu hóa học và sản phẩm hóa học lần lượt tăng 3,2%, 8,2% và 9,1%. Khai thác và tuyển quặng kim loại màu, và luyện kim và cán kéo kim loại màu tăng 22,6% và 20,2%, trong khi luyện kim đen, cán kéo kim loại tăng 2,7%. Tốc độ tăng trưởng của tất cả các ngành này đều chậm lại so với tháng trước. Sáu ngành này cộng lại đóng góp khoảng 2,55 điểm phần trăm vào mức tăng PPI so với cùng kỳ. Khai thác và sàng tuyển than tăng 27,1%, sản xuất máy móc thiết bị điện tăng 5,7%, và sản xuất máy tính, thiết bị truyền thông và thiết bị điện tử khác tăng 4,4%, với tốc độ tăng trưởng đều nới rộng so với tháng trước. Ba ngành này cộng lại đóng góp thêm khoảng 1,53 điểm phần trăm vào mức tăng PPI so với cùng kỳ. Lực kéo tăng của chín ngành trên đối với PPI ít hơn 0,56 điểm phần trăm so với tháng trước. Năm ngành có tác động kéo giảm giá lớn nhất là: sản xuất và cung ứng điện, nhiệt, sản xuất ô tô, sản phẩm từ khoáng phi kim loại, sản xuất dược phẩm, và sản xuất đồ uống có cồn và chè tinh chế. Mức giảm so với cùng kỳ năm trước của chúng dao động từ 2,3% đến 5,7%, cùng đóng góp khoảng 0,76 điểm phần trăm vào mức giảm PPI so với cùng kỳ, thấp hơn 0,05 điểm phần trăm so với tháng trước.
![Báo cáo việc làm phi nông nghiệp đáng thất vọng làm giảm kỳ vọng tăng lãi suất, đồng USD ghi nhận tuần giảm thứ hai liên tiếp, kim loại thể hiện diễn biến trái chiều, kim loại quý có đợt phục hồi mạnh trong tuần [Thị trường qua đêm]](https://imgqn.smm.cn/usercenter/YKilH20251217171735.jpg)

![[CPCA: Trong tháng 7 (1-31/7), doanh số bán lẻ xe du lịch năng lượng mới toàn quốc đạt 970.000 chiếc, giảm 2% so với cùng kỳ]](https://imgqn.smm.cn/usercenter/JYbQQ20251217171736.jpg)
