Tin tức ngày 24/7:
Các cảng miền Bắc Trung Quốc: quặng cục Úc 46% ở mức 41,5~42 nhân dân tệ/mtu, giảm so với tuần trước; quặng bán cacbonat Nam Phi ở mức 34,7~35,2 nhân dân tệ/mtu, giảm; quặng Gabon ở mức 39,3~39,7 nhân dân tệ/mtu, giảm; quặng sắt cao Nam Phi ở mức 29~29,5 nhân dân tệ/mtu, giảm; quặng sắt trung bình Nam Phi ở mức 36~36,5 nhân dân tệ/mtu, đi ngang so với tuần trước.
Các cảng miền Nam Trung Quốc: quặng cục Úc 46% ở mức 42,9~43,4 nhân dân tệ/mtu, giảm so với tuần trước; quặng bán cacbonat Nam Phi ở mức 36,7~37 nhân dân tệ/mtu, giảm; quặng Gabon ở mức 40,9~41,4 nhân dân tệ/mtu, đi ngang so với tuần trước; quặng sắt cao Nam Phi ở mức 31,5~32 nhân dân tệ/mtu, giảm; quặng sắt trung bình Nam Phi ở mức 37,5~38 nhân dân tệ/mtu, đi ngang so với tuần trước.
Giá quặng mangan trên thị trường tiếp tục giảm dần, nhu cầu tiêu thụ cuối cùng vẫn yếu và các thương nhân cắt giảm giá bán phổ biến.
Về phía cung, Consolidated Minerals Limited (CML) đã công bố giá chào bán giao hàng tháng 9 năm 2026 tới Trung Quốc, với quặng cục Úc (Mn>46% Fe<4% SiO2<18%) ở mức 5,1 USD/mtu, giảm 0,2 USD/mtu so với tháng trước. Giá chào hàng giao tháng 9 năm 2026 của South32 tới Trung Quốc là 4,5 USD/mtu cho quặng cục bán cacbonat Nam Phi (giảm 0,25 USD) và 5 USD/mtu cho quặng cục Úc (giảm 0,1 USD). Hiện tại, hàng tồn kho quặng mangan giá cao đang tích tụ tại các cảng và hàng mới vẫn tiếp tục về; hầu hết thương nhân bán quặng mangan giao ngay với giá thấp hơn để đảm bảo tiêu thụ.
Về phía cầu, giá hợp đồng tương lai silic mangan dao động yếu, tâm lý chờ đợi và quan sát trên thị trường mạnh mẽ, khó thúc đẩy mua hàng giao ngay. Trong lĩnh vực giao ngay, các nhà sản xuất hợp kim nhìn chung đang thua lỗ. Tỷ lệ vận hành tại Nội Mông duy trì tương đối ổn định, có một số bảo trì và giảm tải, nhưng việc giải phóng công suất và bảo dưỡng lò cao diễn ra đồng thời; nhìn chung, nhu cầu thăm dò quặng mangan tương đối ít hơn, tâm lý mua hàng trung bình. Tại Ninh Hạ, việc cắt giảm và hạn chế sản xuất diễn ra phổ biến, tỷ lệ vận hành thấp và quan tâm mua vào của các nhà sản xuất yếu. Các nhà máy hợp kim ở miền Nam Trung Quốc có tỷ lệ vận hành tổng thể thấp nhất, chủ yếu mua theo nhu cầu cứng và bầu không khí giao dịch thị trường ảm đạm. Hiện nay, các doanh nghiệp SiMn hầu hết áp dụng chiến lược chỉ nhập bổ sung khi cần và mua khối lượng nhỏ theo biến động giá, với hoạt động giao dịch thưa thớt hơn trong mùa thấp điểm truyền thống. Các giao dịch chủ yếu là các đơn hàng nhỏ lẻ, và nhu cầu quặng mangan thực tế đang yếu đi đôi chút.
Về phía tồn kho, cảng Thiên Tân và cảng Tần Châu đang chứng kiến sự gia tăng tồn kho; tồn kho quặng mangan hiện đang ở mức tương đối cao, và tồn kho cao đang kìm hãm đà tăng giá.
Hỗ trợ từ phía chi phí cho giá quặng đang lỏng lẻo, nhu cầu hợp kim hạ nguồn yếu với các nhà máy chỉ mua bổ sung khi cần, và với tồn kho cảng cao, về cơ bản không có kỳ vọng thiếu hụt, khiến giá quặng thiếu động lực tăng. Dự kiến giá quặng mangan tại cảng sẽ tiếp tục giảm từ từ trong ngắn hạn.


![[SMM Analysis] Tài nguyên JORC Sandawana: 39,9 triệu tấn, 72% Đã đo đạc – Một tài sản chiến lược](https://imgqn.smm.cn/usercenter/KySZv20251217171726.jpg)