Ngày 17 tháng 7 –
Các cảng miền Bắc Trung Quốc: quặng cục Úc 46% 42.5-43 NDT/tấn, giảm theo tuần; quặng cục bán cacbonat Nam Phi 35.7-36.2 NDT/tấn, giảm theo tuần; quặng cục Gabon 40-40.4 NDT/tấn, giảm theo tuần; quặng cục hàm lượng sắt cao Nam Phi 30-30.5 NDT/tấn, đi ngang theo tuần; quặng cục hàm lượng sắt trung bình Nam Phi 36-36.5 NDT/tấn, giảm theo tuần.
Các cảng miền Nam Trung Quốc: quặng cục Úc 46% 43.2-43.7 NDT/tấn, đi ngang theo tuần; quặng cục bán cacbonat Nam Phi 36.8-37.1 NDT/tấn, đi ngang theo tuần; quặng cục Gabon 40.9-41.4 NDT/tấn, giảm theo tuần; quặng cục hàm lượng sắt cao Nam Phi 32.3-32.8 NDT/tấn, đi ngang theo tuần; quặng cục hàm lượng sắt trung bình Nam Phi 37.5-38 NDT/tấn, tăng theo tuần.
Giá quặng mangan giảm dần, nhu cầu tiêu thụ cuối cùng vẫn trì trệ trong việc nhận hàng, và một số thương nhân đang bán với giá giảm nhẹ.
Phía cung, Consolidated Minerals Limited (CML) công bố giá chào hàng tháng 8 năm 2026 tới Trung Quốc: quặng cục Úc với Mn >46%, Fe <4%, SiO2<18% ở mức 5.3 USD/tấn, giảm 0.3 USD/tấn so với tháng trước. Giá chào hàng giao hàng tháng 8 năm 2026 của South32 tới Trung Quốc: quặng cục bán cacbonat Nam Phi ở mức 4.75 USD/tấn (giảm 0.1), quặng cục Úc ở mức 5.1 USD/tấn (giảm 0.15). NMT công bố giá chào hàng giao hàng tháng 8 năm 2026 cho quặng mangan tới Trung Quốc: quặng cục bán cacbonat Nam Phi với Mn 36% (tối thiểu) ở mức 4.6 USD/tấn (giảm 0.1). Hiện tại, tồn kho quặng mangan giá cao đang gia tăng tại các cảng, và khi quặng giá thấp về đến, một số thương nhân đang bán với giá giảm nhẹ để chốt giao hàng.
Phía cầu, Giá kỳ hạn SiMn giao dịch đi ngang trong xu hướng yếu, tâm lý chờ đợi và quan sát của thị trường mạnh, khiến việc thúc đẩy mua hàng giao ngay trở nên khó khăn. Trên thị trường giao ngay, hoạt động tại Nội Mông vẫn tương đối ổn định, nhưng hầu hết các nhà sản xuất báo cáo thua lỗ nặng, với việc cắt giảm sản lượng và hạ tỷ lệ vận hành, trong khi tình trạng giải phóng công suất và bảo trì lò cao cùng tồn tại, dẫn đến mức độ sẵn sàng mua quặng mangan ở mức hờ hững. Tại Ninh Hạ, việc cắt giảm và hạn chế sản xuất tương đối phổ biến, và nhiệt tình thu mua quặng của các nhà khai thác thấp. Các nhà máy hợp kim phía Nam nhìn chung có tỷ lệ vận hành thấp, chủ yếu mua hàng theo nhu cầu cứng nhắc, chỉ mua khi cần, bầu không khí giao dịch thị trường ảm đạm. Hiện tại, các doanh nghiệp SiMn chủ yếu áp dụng chiến lược mua hàng bổ sung hàng cho nhu cầu cứng, theo thị trường lô nhỏ. Sau kỳ nghỉ, hoạt động giao dịch thị trường yếu, các giao dịch chủ yếu là đơn hàng nhỏ lẻ, và nhu cầu thực tế đối với quặng mangan đang yếu đi ở biên.
Về phía tồn kho, Cảng Thiên Tân và Cảng Khâm Châu đang chứng kiến tồn kho gia tăng, tồn kho quặng mangan ở mức tương đối cao, và tồn kho cao kìm hãm đà tăng giá.
Hiện tại, sự hỗ trợ từ phía chi phí đối với đáy giá quặng đã nới lỏng nhẹ, nhưng nhìn chung vẫn ở mức vừa phải. Nhu cầu yếu từ ngành hợp kim hạ nguồn, các nhà máy chỉ bổ sung hàng khi cần, đang hạn chế dư địa tăng giá của quặng. Trong ngắn hạn, giá quặng mangan tại cảng dự kiến sẽ tiếp tục giảm dần, nhưng do chi phí tồn kho quặng mangan cao, nên dư địa giảm giá bị hạn chế.



