Tin ngày 14/8:
Cảng miền Bắc: quặng cục Úc 46% ở mức 40-40,5 NDT/mtu, đi ngang so với tuần trước; quặng bán cacbonat Nam Phi ở mức 32,2-32,7 NDT/mtu, giảm so với tuần trước; quặng cục Gabon ở mức 37,8-38,2 NDT/mtu, đi ngang so với tuần trước; quặng giàu sắt Nam Phi ở mức 28,5-29 NDT/mtu, đi ngang so với tuần trước; quặng sắt hàm lượng trung bình Nam Phi ở mức 35-35,5 NDT/mtu, đi ngang so với tuần trước.
Cảng miền Nam: quặng cục Úc 46% ở mức 42,9-43,4 NDT/mtu, đi ngang so với tuần trước; quặng bán cacbonat Nam Phi ở mức 36,3-36,8 NDT/mtu, đi ngang so với tuần trước; quặng cục Gabon ở mức 40,6-41,1 NDT/mtu, đi ngang so với tuần trước; quặng giàu sắt Nam Phi ở mức 31,2-31,7 NDT/mtu, đi ngang so với tuần trước; quặng sắt hàm lượng trung bình Nam Phi ở mức 38-38,5 NDT/mtu, đi ngang so với tuần trước.
Nhu cầu quặng mangan vẫn yếu, hàng giao ngay tại cảng ở mức cao, và giá quặng mangan tại cảng dự kiến sẽ đi ngang ở mức thấp trong ngắn hạn.
Về nguồn cung, Consolidated Minerals (CML) công bố chào hàng tháng 9/2026 tới Trung Quốc: quặng cục Úc Mn>46%Fe<4%Si02<18% ở mức 5,1 USD/mtu, giảm 0,2 USD/mtu so với tháng trước. South32 chào quặng cục bán cacbonat Nam Phi giao tháng 9/2026 tới Trung Quốc ở mức 4,5 USD/mtu (giảm 0,25 USD), và quặng cục Úc ở mức 5 USD/mtu (giảm 0,1 USD). Comilog chào quặng cục Gabon giao tháng 9/2026 tới Trung Quốc ở mức 4,9 USD/mtu (giảm 0,2 USD). UMK công bố chào hàng quặng mangan tháng 9/2026 tới Trung Quốc đối với quặng cục bán cacbonat Nam Phi ở mức 4,1 USD/mtu (giảm 0,4 USD). Jupiter công bố giá quặng mangan giao tháng 9/2026 tới Trung Quốc: quặng cục bán cacbonat Nam Phi Mn36,5% ở mức 4,1 USD/mtu (giảm 0,5 USD). NMT công bố chào hàng quặng mangan giao tháng 9/2026 tới Trung Quốc: quặng cục bán cacbonat Nam Phi Mn36% (tối thiểu) ở mức 4,1 USD/mtu (giảm 0,5 USD). Quặng mangan tiếp tục cập cảng, tồn kho liên tục tăng và thương nhân chọn bán quặng mangan giao ngay với giá thấp hơn.
Về nhu cầu, giá tương lai SiMn đi ngang trong xu hướng yếu, tâm lý bi quan bao trùm thị trường, khiến việc thúc đẩy mua giao ngay trở nên khó khăn. Trên thị trường giao ngay, sản xuất hợp kim nhìn chung thua lỗ, công suất vận hành tại Nội Mông tương đối ổn định, có bảo trì và giảm tải, đồng thời công suất từ các lò hồ quang chìm đã đưa vào vận hành trước đó cũng đang được giải phóng. Nhìn chung, các nhà máy hỏi mua quặng mangan ít hơn và tâm lý mua hàng ở mức trung bình. Tại Ninh Hạ, cắt giảm sản lượng và giảm sản xuất khá phổ biến ở các nhà sản xuất, công suất vận hành thấp và nhu cầu mua quặng của nhà sản xuất hạn chế. Tại miền Nam Trung Quốc, các nhà máy hợp kim có công suất vận hành thấp nhất, chủ yếu mua theo nhu cầu cứng khi cần và tâm lý giao dịch thị trường ảm đạm. Ở giai đoạn hiện tại, các doanh nghiệp silicomangan chủ yếu lấy bổ sung kho theo nhu cầu cứng và mua các đơn hàng nhỏ theo giá hiện hành làm chiến lược mua hàng. Trong mùa thấp điểm truyền thống, hoạt động giao dịch thị trường tương đối yếu, giao dịch chủ yếu là các đơn hàng nhỏ lẻ và nhu cầu thực tế đối với quặng mangan đang suy yếu ở biên.
Về mặt tồn kho, cảng Thiên Tân có tồn kho liên tục tăng, trong khi cảng Khâm Châu có tồn kho giảm nhẹ. Nhìn chung, tồn kho quặng mangan vẫn ở mức tương đối cao và tồn kho cao kìm hãm đà tăng giá.
Hiện tại, yếu tố hỗ trợ từ phía chi phí đối với giá quặng ở vùng đáy đã suy yếu. Nhu cầu hợp kim từ hạ nguồn yếu và các nhà máy chỉ bổ sung kho theo nhu cầu cứng. Cùng với việc hầu như không có kỳ vọng thiếu hụt do tồn kho tại cảng cao, giá quặng thiếu động lực tăng. Trong ngắn hạn, giá quặng mangan tại cảng sẽ đi ngang ở mức thấp.
![[Phân tích SMM] Giá liti cacbonat giao ngay tích lũy tăng, lực mua hạ nguồn vẫn thận trọng và đứng ngoài quan sát.](https://imgqn.smm.cn/usercenter/WyqWW20251217171729.jpg)


