Giá ADC 12 của Ấn Độ suy yếu trên cả thị trường nội địa và xuất khẩu trong bối cảnh giá nhôm LME điều chỉnh giảm và nhu cầu mua từ Nhật Bản trầm lắng. Giá nhôm LME kỳ hạn ba tháng giảm 3,0% xuống 3.114 USD/tấn vào ngày 7 tháng 10 từ mức 3.210 USD/tấn vào ngày 30 tháng 9, trong khi giá thanh toán giao ngay giảm 3,2% xuống 3.102,50 USD/tấn từ mức 3.204 USD/tấn. Trên thị trường nội địa, giá ADC 12 tại Mumbai bình quân đạt 305.000 rupee/tấn (khoảng 3.151 USD/tấn), giảm 4.000 rupee/tấn, trong khi giá tại Delhi bình quân đạt 304.750 rupee/tấn (khoảng 3.149 USD/tấn), giảm 2.750 rupee/tấn. Quy đổi tiền tệ dựa trên tỷ giá tham chiếu USD/INR là 96,79 rupee đổi 1 đô la vào ngày 8 tháng 10.
Giá ADC 12 xuất xứ Ấn Độ CIF Nhật Bản bình quân đạt 3.080 USD/tấn, giảm 12,50 USD/tấn. Chào giá ADC 12 xuất xứ Trung Quốc CIF Nhật Bản giảm xuống 3.100 USD/tấn từ mức 3.120 USD/tấn vào ngày 30 tháng 9, trong khi chào giá FOB Thái Lan giảm xuống 3.060 USD/tấn từ mức 3.120 USD/tấn. Chào giá FOB Malaysia giảm xuống 3.075 USD/tấn từ mức 3.105 USD/tấn vào ngày 1 tháng 10. Giá phế liệu nhôm quốc tế cũng giảm theo đà điều chỉnh của LME.
Các chào giá tạm thời ở mức 2.920–3.090 USD/tấn đối với phế liệu ép đùn, 3.060–3.150 USD/tấn đối với mâm nhôm, 6.500–6.900 USD/tấn đối với Talk, 2.620–2.640 USD/tấn đối với Tense, khoảng 2.080 USD/tấn đối với Tally, 2.580–2.750 USD/tấn đối với TT và 2.580–2.700 USD/tấn đối với Zorba. Giá Tense và Tally được báo cáo đã giảm khoảng 25–35 USD/tấn vào thứ Tư sau khi giá nhôm LME giảm. Phế liệu nhôm đúc hỗn hợp Malaysia (Tense) cũng được đánh giá ở mức 2.350 USD/tấn vào ngày 5 tháng 10, giảm từ mức 2.400 USD/tấn vào ngày 28 tháng 9.
Các bên tham gia thị trường cho biết người mua Nhật Bản tỏ ra ít hào hứng, với nhu cầu trầm lắng hạn chế các đơn hàng xuất khẩu mới. Giá phế liệu thấp hơn đã giảm bớt chi phí nguyên liệu đầu vào cho các nhà sản xuất hợp kim thứ cấp, nhưng sự kết hợp giữa giá nhôm LME yếu hơn và nhu cầu xuất khẩu thận trọng tiếp tục gây áp lực lên giá ADC 12.



