9.9 Biên bản họp buổi sáng
Chủ đề nóng của thị trường:
Canada dự kiến áp thuế bổ sung từ 15% đến 50% đối với hàng trăm mặt hàng của Mỹ từ ngày 8/9, trong đó thuế đối với sản phẩm thép tăng từ 25% lên 50%, tương ứng với quy mô thuế Mỹ áp lên Canada về mặt đối phó.
Vĩ mô:
(1) Giá dầu chạm mức cao nhất sáu tuần khi rủi ro nguồn cung Trung Đông gia tăng. Cơ sở dầu mỏ Saudi Aramco bị tấn công hôm thứ Hai, và cuối tuần qua Mỹ và Iran đã tấn công tàu chở dầu của nhau trong khi Iran cảnh báo sẽ thiết lập “vùng hạn chế” bên ngoài eo biển Hormuz. WTI chốt phiên tăng 1,33% lên 92,70 USD/thùng, Brent tăng 1,37% lên 95,79 USD/thùng. Cuộc họp OPEC+ hôm Chủ nhật giữ nguyên chính sách sản lượng tháng 10. Thị trường chứng khoán và trái phiếu giao ngay của Mỹ đóng cửa nghỉ lễ Lao động.
(2) Đồng yên tăng vọt lên mức cao nhất bảy tháng, đồng USD giảm xuống dưới mốc 99. Thị trường đang định giá xác suất 75% Ngân hàng Trung ương Nhật Bản tăng lãi suất 25 điểm cơ bản tại cuộc họp ngày 18/9, USD/JPY giảm 1,22% tiến gần mức 154. Chỉ số USD chốt phiên giảm 0,26% xuống 98,91. Giới giao dịch đã định giá đầy đủ khả năng Ngân hàng Trung ương châu Âu tăng lãi suất 25 điểm cơ bản vào thứ Năm tuần này lên 2,50%.
(3) Trọng tâm tuần này: CPI tháng 8 của Mỹ công bố thứ Sáu sẽ quyết định liệu Fed có tăng lãi suất vào tháng 9 hay không. Thị trường hiện định giá xác suất tăng lãi suất khoảng 60%, với PPI thứ Năm là chỉ báo tiền đề. UBS mới chuyển sang dự báo Fed sẽ tăng lãi suất 25 điểm cơ bản mỗi lần vào tháng 9 và tháng 12. Trong nước, dự trữ vàng của ngân hàng trung ương tăng lên 76,73 triệu ounce vào cuối tháng 8, đánh dấu 22 tháng tăng liên tiếp.
Thị trường giao ngay:
Ngày 8/9, giá trung bình niken tinh luyện số 1 theo SMM là 127.850 nhân dân tệ/tấn, giảm 650 nhân dân tệ/tấn so với ngày giao dịch trước. Về phí bảo hiểm giao ngay, mức trung bình của niken tinh luyện số 1 Kim Xuyên là 1.750 nhân dân tệ/tấn, tăng 100 nhân dân tệ/tấn so với ngày giao dịch trước, trong khi các thương hiệu niken điện phân nội địa chủ đạo dao động từ -200 đến 500 nhân dân tệ/tấn.
Thị trường kỳ hạn:
Hợp đồng niken SHFE được giao dịch nhiều nhất (2610) mở cửa thấp hơn và giảm trong phiên sáng, chốt phiên sáng ở mức 127.180 nhân dân tệ/tấn, giảm 0,55%.
Triển vọng ngắn hạn:
Giá niken vẫn chịu sự chi phối bởi các yếu tố cơ bản là tồn kho cao và nhu cầu yếu, với hỗ trợ chi phí tạo ra mức sàn. Tâm lý thị trường thận trọng trước khi công bố CPI tháng 8 của Mỹ vào thứ Sáu. Trong ngắn hạn, hợp đồng niken SHFE được giao dịch nhiều nhất dự kiến sẽ dao động trong khoảng 126.000-130.000 nhân dân tệ/tấn.
Niken sunfat
Ngày 8 tháng 9, giá trung bình niken sunfat cấp pin của SMM giữ ổn định.
Về mặt chi phí, áp lực tăng lãi suất vĩ mô kết hợp với các yếu tố cơ bản yếu đã khiến giá niken chịu áp lực và giảm xuống, kéo theo chi phí sản xuất tức thời của niken sunfat giảm. Về mặt cung, một số nhà sản xuất đang giữ mức tồn kho tương đối cao và tìm cách cắt giảm sản lượng để giảm tồn kho, với tổng cung giảm nhẹ. Về mặt cầu, một số doanh nghiệp hạ nguồn vẫn chủ yếu dựa vào nguồn cung theo hợp đồng dài hạn, với tâm lý xây dựng tồn kho qua đơn hàng giao ngay yếu và mức chấp nhận giá muối niken tương đối thấp. Hôm nay, Hệ số tâm lý sẵn sàng bán của các nhà luyện muối niken thượng nguồn ở mức 2,0, hệ số tâm lý mua hàng của các nhà máy tiền chất hạ nguồn là 2,2 và hệ số tâm lý của các doanh nghiệp tích hợp là 2,3 (dữ liệu lịch sử có thể tra cứu trong cơ sở dữ liệu).
Nhìn về phía trước, hoạt động thị trường đơn hàng giao ngay dự kiến sẽ vẫn yếu trong ngắn hạn, với giá niken sunfat chịu áp lực tổng thể.
NPI
Tin ngày 8 tháng 9: Hệ số tâm lý thị trường NPI cao cấp của SMM là 1,74, giảm 0,01 so với tháng trước. Hệ số tâm lý thượng nguồn đối với NPI cao cấp là 1,83, giảm 0,01 so với tháng trước, trong khi hệ số tâm lý hạ nguồn đối với NPI cao cấp là 1,65, không đổi so với tháng trước. Thị trường NPI cao cấp vẫn trong trạng thái giằng co, với khoảng cách giá giữa thượng nguồn và hạ nguồn ngày càng nới rộng. Thua lỗ của các nhà máy thép kết hợp với tình hình thị trường thép không gỉ ảm đạm đã khiến ý định mua hàng của hạ nguồn chịu áp lực giảm. Nhiều nhà máy thép giữ lượng tồn kho đủ và đã chọn tạm dừng mua và chờ đợi. Về phía nhà sản xuất sắt, có sự kháng cự đối với giá thấp, với một số doanh nghiệp làm chậm việc xuất hàng và không muốn bán mạnh ở mức thấp. Vẫn còn khoảng cách rõ ràng giữa mức giá tâm lý của thượng nguồn và hạ nguồn. Tuy nhiên, tâm lý bi quan đang mạnh trên thị trường, với hầu hết người tham gia kỳ vọng giá sẽ giảm xuống dưới 1.090 hoặc thậm chí 1.100 nhân dân tệ/tấn Ni. Thanh khoản giao ngay yếu, thị trường bước vào giai đoạn giằng co và tích lũy ở mức thấp.
Thép không gỉ
Theo SMM ngày 8/9, giá SS quay lại xu hướng giảm. Sau khi mở cửa phiên đêm, giá giảm nhanh, mức thấp trong phiên có lúc chạm 13.750 nhân dân tệ/tấn. Đến lúc đóng cửa, hợp đồng SS được giao dịch nhiều nhất chốt ở mức 13.830 nhân dân tệ/tấn. Trên thị trường giao ngay, do giá SS giảm trở lại, niềm tin vào thị trường thép không gỉ càng suy yếu. Khoảng giữa trưa, các đại lý nhà máy thép chủ động hạ giá chào để thúc đẩy xuất hàng, kéo giá chào thép không gỉ giao ngay xuống thấp hơn.
Hợp đồng SS được giao dịch nhiều nhất. Lúc 10h15 sáng, SS2610 được chào ở mức 13.815 nhân dân tệ/tấn, giảm 80 nhân dân tệ/tấn so với phiên giao dịch trước. Mức cộng giao ngay của 304/2B tại Vô Tích nằm trong khoảng 55-855 nhân dân tệ/tấn. Trên thị trường giao ngay, giá trung bình cuộn cán nguội 201/2B tại Vô Tích đi ngang; đối với cuộn cán nguội cạnh chưa cắt 304/2B, giá trung bình tại Vô Tích đi ngang, giá trung bình tại Phật Sơn đi ngang; giá cuộn cán nguội 316L/2B tại Vô Tích đi ngang; đối với cuộn cán nóng 316L/NO.1, giá chào tại Vô Tích đi ngang; cuộn cán nguội 430/2B tại cả Vô Tích và Phật Sơn đều đi ngang.
Tuần này, giá thép không gỉ kỳ hạn nhìn chung tiếp tục xu hướng yếu và phá vỡ sâu hơn. Giai đoạn tiêu thụ truyền thống “mùa cao điểm tháng 9” đã chính thức bắt đầu, nhưng kỳ vọng phục hồi nhu cầu đã thất bại. Tâm lý thị trường chuyển sang bi quan và tiêu cực, giá SS chịu áp lực và suy yếu. Trong tuần, mức thấp trong phiên có lúc giảm xuống dưới 13.700 nhân dân tệ/tấn, trung tâm định giá thị trường tiếp tục thoái lui, tâm lý tiêu cực chiếm ưu thế. Thị trường giao ngay suy yếu theo giá kỳ hạn, không xuất hiện đợt tăng trước mùa cao điểm và mất cân bằng cung cầu ngày càng trầm trọng. Thị trường hiện đã bước vào cửa sổ tiêu thụ cao điểm truyền thống, nhưng người dùng cuối hạ nguồn chưa có hoạt động tích trữ tập trung. Nhu cầu cứng vẫn trì trệ, giao dịch thị trường tổng thể ảm đạm. Phía tồn kho có sự phân hóa về cơ cấu. Tuần này, giá kỳ hạn duy trì ở mức thấp kéo dài, tồn kho chứng chỉ giảm đều, kéo tồn kho xã hội thép không gỉ giảm nhẹ. Tuy nhiên, áp lực cơ bản chưa thực sự giảm bớt. Các đợt cắt giảm lịch sản xuất tại nhà máy thép còn hạn chế, công suất tổng thể duy trì ở mức cao, nhu cầu cứng từ người dùng cuối vẫn vắng bóng, khiến hiệu quả giảm tồn kho thấp. Áp lực tồn kho toàn ngành duy trì ở mức cao, cục diện cung vượt cầu tiếp tục kéo dài. Áp lực chi phí và lợi nhuận bộc lộ rõ rệt, các nhà máy thép bắt đầu thua lỗ. Tuần này, giá sản phẩm thép không gỉ và nguyên liệu thô đồng loạt giảm, nhưng giá sản phẩm giảm mạnh hơn nguyên liệu do tác động từ giá tương lai, đẩy ngành vào tình trạng thua lỗ. Biên lợi nhuận luyện thép của các nhà máy bị thu hẹp. Trước áp lực lợi nhuận, mong muốn ép giá nguyên liệu niken của các nhà máy thép tiếp tục gia tăng, từ đó gây sức ép lên giá nguyên liệu và tạo thành vòng luẩn quẩn tiêu cực: giá sản phẩm giảm, thua lỗ, rồi lại đè nén giá nguyên liệu. Nhìn chung, thị trường thép không gỉ tuần này thể hiện cục diện giằng co yếu với kỳ vọng mùa cao điểm thất bại, nhu cầu cứng từ người dùng cuối trì trệ, giá tương lai phá vỡ ngưỡng hỗ trợ, giá giao ngay giảm theo, phân hóa cơ cấu tồn kho và thua lỗ tại các nhà máy thép. Trong ngắn hạn, sự thất bại của phục hồi nhu cầu mùa cao điểm, tâm lý bi quan lan rộng trên thị trường, lịch sản xuất cao tại các nhà máy thép và giá tương lai do phe bán chi phối là những yếu tố giảm giá cốt lõi, khiến thị trường duy trì trạng thái yếu. Thời gian tới, cần chú ý đến nhịp độ ngừng giảm và phục hồi của giá tương lai thép không gỉ, tiến độ hiện thực hóa nhu cầu cứng mùa cao điểm và tích trữ hàng ở hạ nguồn, điều chỉnh lịch sản xuất của các nhà máy thép, biến động chênh lệch giá nguyên liệu - sản phẩm và tốc độ giảm tồn kho.
Quặng niken:
Thị trường Philippines:
Giá cả: Tuần này, giá quặng niken Philippines nhìn chung ổn định. Báo giá CIF chủ đạo tới Trung Quốc là 46 USD/tấn ướt đối với Ni 1,3%, 56,5 USD/tấn ướt đối với Ni 1,4% và 64,5 USD/tấn ướt đối với Ni 1,5%, đều đi ngang so với tuần trước. Các nhà máy luyện kim hạ nguồn Trung Quốc có lượng tồn kho nguyên liệu tương đối đầy đủ, nhu cầu bổ sung hàng vẫn yếu, việc mua vào chủ yếu đáp ứng nhu cầu sản xuất trước mắt, giao dịch giao ngay tổng thể trầm lắng. Giá quặng cấp cao tương đối vững, trong khi quặng cấp thấp vẫn chịu áp lực nhất định trong bối cảnh nguồn cung dồi dào và nhu cầu phục hồi hạn chế.
Thời tiết: Tuần này, rủi ro thời tiết tại các khu vực sản xuất quặng niken chính của Philippines gia tăng, trong đó Zambales trở thành khu vực bị gián đoạn chính. Vào ngày 4 tháng 9, gió mùa tây nam (Habagat) đã mang mưa lớn đến Zambales, có thể gây ra các tác động ngắn hạn theo từng giai đoạn đến hoạt động khai thác mỏ, vận tải đường bộ và bốc xếp tại cảng. Ngược lại, Palawan và các khu vực sản xuất chính khác vẫn tiếp tục hoạt động tương đối bình thường. Nhìn chung, gián đoạn thời tiết chưa làm thay đổi đáng kể bức tranh cung ứng tổng thể của Philippines, nhưng rủi ro vận hành ngắn hạn tại Zambales đã gia tăng.
Về phía cung, nguồn cung quặng niken Philippines nhìn chung vẫn tương đối dồi dào. Do ảnh hưởng của mưa lớn gần đây, sản lượng tại Zambales dự kiến sẽ chậm lại theo từng giai đoạn. Nhìn chung, nguồn cung ngắn hạn có thể gặp một số gián đoạn do thời tiết, nhưng chưa đủ để tạo ra tình trạng thắt chặt cung đáng kể. Xuất khẩu quặng niken Philippines vẫn chịu ảnh hưởng chính từ nhu cầu hạ nguồn của Trung Quốc và Indonesia, cũng như thời tiết mùa mưa. Xuất khẩu quặng Philippines sang Indonesia đã tăng đáng kể trong nửa đầu năm, cho thấy thị trường Indonesia vẫn là nguồn cầu quan trọng đối với quặng Philippines.
Đối với thị trường Indonesia, giá CIF Indonesia đối với quặng niken Philippines đang chịu một số áp lực giảm trong thời gian tới. Do giá quặng niken Indonesia ở mức tương đối thấp trong tháng 9, đặc biệt với nguồn cung dồi dào quặng Ni 1,3–1,4%, mức chấp nhận giá của các lò luyện Indonesia đối với quặng nhập khẩu từ Philippines đã giảm. Với giá quặng nội địa Indonesia ở mức thấp, các nhà khai thác Philippines có thể cần tiếp tục hạ giá chào CIF Indonesia để duy trì khả năng cạnh tranh tại thị trường Indonesia. Chênh lệch giá giữa quặng Philippines và quặng nội địa Indonesia sẽ là yếu tố then chốt trong các quyết định thu mua sắp tới. Trong khi đó, nhu cầu xuất khẩu quặng Philippines sang Indonesia vẫn duy trì sức bền, với việc Indonesia nhập khẩu khoảng 8,57 triệu tấn quặng niken từ Philippines trong nửa đầu năm 2026, tăng 65,1% so với cùng kỳ, chủ yếu chảy vào các khu vực như Weda, Morowali và Kendari.
Về mặt cung cầu và tâm lý thị trường, thị trường quặng niken Philippines vẫn trong trạng thái cung tương đối lỏng lẻo và cầu yếu. Các lò luyện hạ nguồn Trung Quốc nắm giữ lượng tồn kho tương đối đủ, hoạt động thu mua chủ yếu theo nhu cầu, và giao dịch thị trường chỉ cải thiện hạn chế. Khi áp lực cung chưa giảm rõ rệt, người mua vẫn nắm giữ quyền thương lượng mạnh. Quặng nickel cao cấp vẫn tương đối ổn định nhờ nhu cầu thu mua ổn định từ các nhà luyện NPI, trong khi quặng cấp thấp tiếp tục chịu áp lực kép từ nguồn cung dồi dào và nhu cầu yếu. Đối với thị trường Indonesia, giá quặng nickel nội địa thấp sẽ tiếp tục thu hẹp không gian giá nhập khẩu quặng Philippines.
Nhìn về phía trước, nguồn cung quặng nickel Philippines dự kiến vẫn duy trì bình thường trong tuần tới, mặc dù mưa lớn tại Zambales có thể tiếp tục làm gián đoạn sản xuất và bốc xếp tại một số mỏ địa phương. Một phần nguồn cung giao ngay có thể bị trì hoãn trong ngắn hạn, nhưng điều này không đủ để thay đổi cục diện nguồn cung lỏng lẻo tổng thể. Về giá, báo giá CIF sang thị trường Trung Quốc dự kiến vẫn ở mức thấp, trong khi giá CIF Indonesia chịu áp lực giảm lớn hơn. Nếu giá quặng nickel nội địa Indonesia duy trì ở mức thấp, các nhà khai thác Philippines có thể cần tiếp tục cắt giảm báo giá CIF Indonesia để duy trì nhu cầu thu mua. Các điểm cần theo dõi bao gồm diễn biến thời tiết tại Zambales, tiến độ bốc xếp tại các mỏ Philippines, giá quặng nội địa Indonesia và nhịp độ bổ sung tồn kho của người mua hạ nguồn tại Trung Quốc và Indonesia.
Thị trường Indonesia:
Về giá, giá CIF quặng nickel Indonesia tuần này nhìn chung ổn định, với Ni 1,4%, 1,5% và 1,6% lần lượt được báo ở mức 52,75 USD/tấn ướt, 59,2 USD/tấn ướt và 64,1 USD/tấn ướt, thay đổi tổng thể hạn chế so với mức trước đó. Tồn kho nguyên liệu thô của các nhà luyện vẫn tương đối đầy đủ, mức độ sẵn sàng bổ sung tồn kho yếu, giao dịch giao ngay nhìn chung trì trệ và giá quặng nickel có động lực tăng hạn chế.
Về HMA, HMA nickel của Indonesia trong nửa đầu tháng 9 giảm xuống còn 16.733,33 USD/tấn, giảm 226,67 USD/tấn so với mức 16.960 USD/tấn trong nửa cuối tháng 8, tương đương mức giảm khoảng 1,33%. Chịu ảnh hưởng từ điều này, HPM trong nửa đầu tháng 9 cũng được điều chỉnh giảm tương ứng, với Ni 1,4%, 1,5% và 1,6% lần lượt giảm xuống còn 54,07 USD/tấn ướt, 58,75 USD/tấn ướt và 63,64 USD/tấn ướt. HMA và HPM đồng thời suy yếu, tiếp tục hạ thấp giá chuẩn ở cấp mỏ và làm giảm mức chấp nhận quặng giá cao của các nhà luyện.
Về phía nguồn cung, các khu vực sản xuất quặng nickel chính của Indonesia hiện đang trong giai đoạn tương đối khô của mùa khô, lượng mưa hạn chế, hoạt động khai thác, vận chuyển và bốc xếp tại cảng nhìn chung vẫn bình thường. Điều kiện thời tiết hiện tại thuận lợi cho hoạt động sản xuất và xuất quặng của các mỏ, các gián đoạn nguồn cung liên quan đến thời tiết ở mức yếu. Khi mùa khô tiếp diễn, nếu hạn ngạch RKAB được phê duyệt thêm, kỳ vọng nguồn cung thị trường vẫn còn dư địa cải thiện.
Về phía cầu, tồn kho nguyên liệu tại các nhà máy luyện tương đối đầy đủ, hoạt động mua giao ngay vẫn chủ yếu theo nhu cầu thực tế. Đối với quặng cao cấp (Ni 1,45% trở lên), nguồn cung nội địa tương đối hạn chế, cạnh tranh thu mua vẫn gay gắt và giá tương đối vững; trong khi nguồn cung quặng Ni 1,3–1,4% dồi dào hơn, một phần nhu cầu vẫn được bổ sung bằng quặng nhập khẩu từ Philippines. Nhìn chung, diễn biến giá giữa các loại quặng niken vẫn phân hóa rõ rệt.
Đối với phí bảo hiểm HPM, sau khi HMA tháng 9 giảm, mức độ chấp nhận của thị trường đối với quặng phí bảo hiểm cao tiếp tục giảm. Giá giao dịch giao ngay hiện tại của quặng limonit vẫn thấp hơn rõ rệt so với giá HPM lý thuyết, và các doanh nghiệp HPAL có động lực bổ sung tồn kho hạn chế do tồn kho nguyên liệu đã đầy đủ. Đồng thời, mùa khô thuận lợi cho sản xuất và xuất quặng của các mỏ, làm giảm gián đoạn nguồn cung, tất cả đều gây áp lực lên phí bảo hiểm HPM. Nếu các phê duyệt RKAB và giải phóng hạn ngạch tiếp theo tiếp tục cải thiện kỳ vọng nguồn cung, sức mạnh đàm phán của người mua có thể tiếp tục tăng, và mức chiết khấu giữa giá giao dịch thực tế của quặng limonit và giá HPM lý thuyết có thể nới rộng thêm.
Về phía chính sách, thị trường vẫn đang chờ đợi các phê duyệt RKAB tiếp theo và giải phóng nguồn cung thực tế. Trọng tâm hiện tại của thị trường đã chuyển từ kỳ vọng hạn ngạch đơn thuần sang việc thực thi hạn ngạch thực tế và tốc độ xuất quặng của các mỏ. Trong khi đó, Indonesia đã áp dụng quy định DHE SDA mới từ ngày 1 tháng 9, theo đó các doanh nghiệp xuất khẩu khai khoáng đủ điều kiện có thể đăng ký cơ chế giữ lại ngoại hối linh hoạt hơn, và hiện có 64 doanh nghiệp xuất khẩu khai khoáng đáp ứng các điều kiện liên quan. Chính sách này chủ yếu giảm bớt áp lực dòng tiền cho các doanh nghiệp khai khoáng đủ điều kiện, với tác động ngắn hạn hạn chế đến nguồn cung quặng niken thực tế, nhưng có thể cải thiện vòng quay vốn và tính linh hoạt trong bán hàng của một số doanh nghiệp xuất khẩu.
Nhìn về phía trước, giá quặng niken Indonesia dự kiến sẽ duy trì ở mức thấp trong ngắn hạn. Quặng cao cấp được hỗ trợ bởi hạn chế nguồn cung, giữ giá tương đối vững; quặng cấp thấp và quặng limonit tiếp tục chịu áp lực từ tồn kho dồi dào, nhu cầu yếu và việc hạ cấp HMA. Sau khi HMA tháng 9 giảm, giá HPM lý thuyết sẽ giảm theo, và việc thu hẹp hơn nữa mức phí bảo hiểm HPM sẽ vẫn là diễn biến quan trọng trên thị trường quặng limonit. Nếu nguồn cung RKAB tiếp tục được giải phóng trong thời gian tới trong khi nhu cầu bổ sung kho của HPAL không phục hồi đáng kể, mức chiết khấu giữa giá giao ngay và giá HPM lý thuyết có thể tiếp tục nới rộng. Thị trường sau đó sẽ tập trung vào việc phê duyệt RKAB và hạn ngạch thực tế được giải phóng, tốc độ bổ sung kho của lò luyện, thay đổi mức phí bảo hiểm HPM, và điều kiện cung quặng cao cấp.

![[SMM Tin nhanh Thép không gỉ] JSL của Ấn Độ ký thỏa thuận với JFE Steel của Nhật Bản để thúc đẩy sản xuất thép không gỉ ferritic](https://imgqn.smm.cn/usercenter/NHXhQ20251217171733.jpg)
![[SMM Tin nhanh thép không gỉ] Posco Assan TST: Cạnh tranh công bằng nên là ưu tiên của ngành thép không gỉ](https://imgqn.smm.cn/usercenter/yUOUz20251217171732.jpg)
![[SMM Tin nhanh thép không gỉ] Thị trường thép Ý hoạt động trở lại sau kỳ nghỉ hè, nhu cầu thép không gỉ vẫn yếu](https://imgqn.smm.cn/usercenter/fzwTi20251217171733.jpg)
