Tầm quan trọng ngày càng tăng của phân loại sản phẩm và xác định xuất xứ trong bối cảnh EU CBAM tác động đến thanh, que và sản phẩm đùn nhôm không hợp kim [Phân tích SMM]

Đã xuất bản: Aug 28, 2026 15:44

Khi Cơ chế Điều chỉnh Biên giới Carbon (CBAM) của EU dần mở rộng sang các sản phẩm nhôm chế biến ở hạ nguồn, việc phân loại sản phẩm và thông tin xuất xứ chính xác ngày càng trở nên quan trọng và tác động trực tiếp đến đánh giá mức độ phơi nhiễm carbon tiềm tàng.

Tiếp theo phân tích ở Phần I về CN 76042100 (nhôm hợp kim ép đùn rỗng) và CN 76042990 (nhôm hợp kim ép đùn đặc), bài viết này tập trung thêm vào hai sản phẩm thuộc HS 7604 có quy mô tương đối nhỏ nhưng thể hiện khác biệt rõ rệt về cấu trúc thương mại:

  • CN 76041090—Các loại nhôm không hợp kim ép đùn khác
  • CN 76042910—Thanh, que nhôm hợp kim

Năm 2025, tổng lượng nhập khẩu của hai nhóm sản phẩm trên vào EU-27 từ ngoài EU đạt khoảng 54.800 tấn, chiếm khoảng 13% tổng nhập khẩu HS 7604.

Dù quy mô thương mại nhỏ hơn đáng kể so với nhôm hợp kim ép đùn được đề cập ở Phần I, hai phân nhóm này cho thấy một dạng vấn đề CBAM khác.

CN 76041090 ghi nhận tăng trưởng nhập khẩu mạnh trong năm 2025, nhưng một phần đáng kể khối lượng thương mại được phân loại theo nhóm đối tác thương mại phi quốc gia **“Biển cả”**, làm tăng độ khó của phân tích CBAM ở cấp quốc gia.

Ngược lại, cấu trúc xuất xứ của CN 76042910 rõ ràng hơn, nhưng nhập khẩu lại suy giảm đáng kể trong cả năm 2025 và nửa đầu năm 2026.

Hai sản phẩm này cho thấy rằng, trong khuôn khổ CBAM, chỉ có mã HS bốn chữ số dần không còn đủ để hỗ trợ phân tích chính xác,và tầm quan trọng của phân loại sản phẩm CN8, xuất xứ và tuyến sản xuất tương ứng tiếp tục gia tăng.

Có khác biệt nhỏ về giá trị chuẩn CBAM giữa các phân loại CN khác nhau

Theo Quy định Thực thi của Ủy ban (EU) 2025/2620, các giá trị chuẩn CBAM áp dụng cho CN 76041090 và CN 76042910 không hoàn toàn giống nhau.

Đối vớiCN 76041090 Các loại nhôm không hợp kim ép đùn khác:

  • Giá trị chuẩn tuyến K:1,493 tấn CO₂e/tấn
  • Giá trị chuẩn tuyến L:0,152 tấn CO₂e/tấn

Đối vớiCN 76042910 Thanh, que nhôm hợp kim:

  • Giá trị chuẩn tuyến K:1,485 tấn CO₂e/tấn
  • Giá trị chuẩn tuyến L:0,148 tấn CO₂e/tấn

Mặc dù chênh lệch giữa hai mã tương đối nhỏ, điều này cho thấy mức độ chi tiết của tính toán phơi nhiễm CBAM đã được tinh chỉnh đến cấp mã CN, thay vì được xử lý đồng nhất chỉ dựa trên toàn bộ HS 7604 như một khối

Bài viết này tiếp tục sử dụng cùng phương pháp tính mức phơi nhiễm theo đơn vị lý thuyết như ở Phần I:

Mức phơi nhiễm theo đơn vị lý thuyết = max[(Giá trị mặc định cơ sở × 1,1) − (Giá trị chuẩn × 97,5%), 0]

Phép tính giả định Hệ số điều chỉnh liên ngành (CSCF) bằng 1 và không khấu trừ bất kỳ mức giá carbon nào đã thực tế được trả tại quốc gia xuất xứ (nếu đủ điều kiện).

Do đó, các kết quả trình bày trong bài viết này thể hiện mức phơi nhiễm chứng chỉ CBAM theo lý thuyết theo phương pháp giá trị mặc định và không tương đương với chi phí tuân thủ thực tế cuối cùng của nhà nhập khẩu.

Tổng nhập khẩu gộp của hai nhóm sản phẩm tương đối ổn định, nhưng xu hướng nội bộ phân hóa rõ rệt

Năm 2025, EU-27 nhập khẩu tổng cộng khoảng 54.800 tấn của hai nhóm sản phẩm nêu trên từ ngoài EU, tăng khoảng 1,8% so với cùng kỳ từ khoảng 53.900 tấn năm 2024.

Trong cùng giai đoạn, tổng giá trị nhập khẩu tăng từ khoảng 366 triệu EUR lên khoảng 385 triệu EUR.

Tuy nhiên, sự ổn định tương đối của các số liệu tổng hợp che giấu những xu hướng khác biệt rõ rệt giữa hai phân khúc.

Sản phẩm Nhập khẩu 2024 Nhập khẩu 2025 So với cùng kỳ Giá trị nhập khẩu 2025
CN 76041090 Các loại nhôm đùn không hợp kim khác 16.117 tấn 21.428 tấn +33,0% 218,4 triệu EUR
CN 76042910 Thanh, que hợp kim nhôm 37.738 tấn 33.414 tấn -11,5% 166,7 triệu EUR
Tổng 53.855 tấn 54.843 tấn +1,8% 385,2 triệu EUR

Trong đó, CN 76042910 vẫn là nhóm lớn hơn, chiếm khoảng 60,9% tổng nhập khẩu gộp của hai nhóm sản phẩm.

Tuy nhiên, mức tăng trưởng có vẻ mạnh của CN 76041090 cần được phân tích chi tiết hơn.

Hơn 40% lượng nhập khẩu CN 76041090 được ghi nhận là “Biển khơi”

Một trong những đặc điểm đáng chú ý nhất của CN 76041090 là một khối lượng lớn thương mại nhập khẩu không được quy cho các quốc gia cụ thể, mà thay vào đó được ghi nhận theo nhóm **“Biển khơi”**.

Năm 2025, lượng nhập khẩu thuộc nhóm này xấp xỉ 9.037 tấn, chiếm khoảng 42,2% tổng nhập khẩu của EU đối với CN 76041090 từ ngoài EU.

Con số này cao hơn đáng kể so với xấp xỉ 5.844 tấn năm 2024, tăng khoảng 54,7% so với cùng kỳ.

Nói cách khác, riêng nhóm “Biển khơi” đã đóng góp tỷ trọng lớn vào tăng trưởng nhập khẩu CN 76041090 trong năm 2025.

Điều này đặc biệt quan trọng đối với phân tích CBAM.

Vì “Biển khơi” không phải là một quốc gia xuất xứ cụ thể, chỉ dựa vào thống kê thương mại không thể đối chiếu đáng tin cậy phần thương mại này với các giá trị mặc định CBAM tương ứng cho một quốc gia nhất định.

Do đó, trong ước tính CBAM theo cấp quốc gia trong bài viết này, SMM không áp đặt việc phân bổ các giá trị mặc định theo quốc gia cho phần khối lượng thương mại này.

Sau khi loại bỏ các bản ghi đối tác thương mại mang tính phi quốc gia, năm 2025, lượng nhập khẩu CN 76041090 mà có thể xác định rõ một quốc gia xuất xứ cụ thể chỉ chiếm khoảng 58% tổng khối lượng khai báo.

Vì vậy, mức tăng nhập khẩu 33% của nhóm này trong năm 2025 không thể đơn giản được diễn giải là sự mở rộng diện rộng xuất khẩu sang EU của các quốc gia cung ứng truyền thống.

Albania vẫn là quốc gia cung ứng lớn nhất có thể xác định

Trong phần thương mại mà có thể xác định rõ quốc gia xuất xứ, Albania là quốc gia cung ứng lớn nhất của CN 76041090 trong năm 2025.

EU nhập khẩu từ Albania khoảng 2.747 tấn, thấp hơn khoảng 3.179 tấn năm 2024, giảm khoảng 13,6% so với cùng kỳ.

Theo hệ thống giá trị mặc định CBAM đã sửa đổi, giá trị mặc định cơ sở cho sản phẩm này từ Albania khoảng 1,16 tấn CO₂e/tấn, tương ứng với tuyến L, tức tuyến nhôm thứ cấp.

Tính theo giá trị chuẩn tuyến L là 0,152 tấn CO₂e/tấn:

1,16 × 1,1 − 0,152 × 97,5% ≈ 1,13 tấn CO₂e/tấn

Mức phơi nhiễm đơn vị theo lý thuyết này rõ ràng thấp hơn so với một số quốc gia cung ứng lớn có sử dụng một phần tuyến nhôm nguyên sinh.

Do đó, Albania phản ánh tác động của khác biệt về tuyến sản xuất lên kết quả CBAM: giá trị mặc định thấp hơn theo tuyến nhôm thứ cấp có thể làm giảm đáng kể mức phơi nhiễm đơn vị theo lý thuyết, nhưng đồng thời mức khấu trừ theo giá trị chuẩn tương ứng cũng nhỏ hơn nhiều so với tuyến nhôm nguyên sinh.

Mozambique tạm thời trở thành một quốc gia cung ứng lớn vào năm 2025, nhưng tăng trưởng không kéo dài sang năm 2026

Mozambique là một thay đổi đáng chú ý khác trong dữ liệu thương mại CN 76041090 năm 2025.

Năm 2025, EU nhập khẩu khoảng 2.432 tấn sản phẩm này từ Mozambique, khiến nước này trở thành nguồn cung theo quốc gia có thể xác định lớn thứ hai.

Khối lượng thương mại tương đương trong cùng kỳ năm 2024 tương đối thấp.

Tuy nhiên, mức tăng này không kéo dài sang năm 2026.

Trong nửa đầu năm 2026, nhập khẩu của EU từ Mozambique giảm xuống khoảng 223 tấn, giảm khoảng 89% so với nửa đầu năm 2025.

Vì vậy, đợt tăng nhập khẩu năm 2025 hiện phù hợp hơn khi được xem là một biến động theo giai đoạn, thay vì một bức tranh nguồn cung mới ổn định đã hình thành.

Tuy nhiên, trường hợp này cũng cho thấy rằng trong các thị trường sản phẩm nhôm hạ nguồn có quy mô thương mại tương đối nhỏ, chỉ cần một nguồn cung mới tăng mạnh trong ngắn hạn, cấu trúc phơi nhiễm CBAM theo quốc gia của toàn thị trường có thể thay đổi đáng kể.

Xuất khẩu nhôm đùn không hợp kim của Trung Quốc tiếp tục giảm

Trung Quốc vẫn là một trong những nguồn cung chủ chốt của CN 76041090, nhưng nguồn cung sang châu Âu đã tiếp tục giảm trong những năm gần đây.

Nhập khẩu của EU từ Trung Quốc giảm từ khoảng 3.012 tấn năm 2024 xuống khoảng 2.253 tấn năm 2025, giảm khoảng 25,2% so với cùng kỳ năm trước.

Xu hướng này tiếp tục trong nửa đầu năm 2026, với nhập khẩu giảm khoảng 41% so với cùng kỳ năm trước xuống khoảng 744 tấn.

Giá trị mặc định cơ bản đã điều chỉnh cho các sản phẩm HS 7604 liên quan của Trung Quốc là khoảng 4,881 tCO₂e/tấn, tương ứng với tuyến K.

Tính theo giá trị chuẩn 1,493 tCO₂e/tấn cho CN 76041090:

4.881 × 1.10 − 1.493 × 97.5% ≈ 3,91 tCO₂e/tấn

Theo phương pháp giá trị mặc định này, mức phơi nhiễm đơn vị theo lý thuyết cao hơn đáng kể so với Albania.

Cần lưu ý rằng chỉ riêng dữ liệu thương mại không thể chứng minh việc sụt giảm xuất khẩu của Trung Quốc là do Cơ chế Điều chỉnh Biên giới Carbon (CBAM) trực tiếp gây ra. Các yếu tố như nhu cầu tại châu Âu, giá sản phẩm, các biện pháp thương mại truyền thống và chiến lược kinh doanh của nhà cung cấp đều có thể tác động.

Tuy nhiên, khi các nhà nhập khẩu EU phải dựa vào các giá trị mặc định để hạch toán, mức độ phơi nhiễm carbon cao hơn có thể trở thành một bất lợi cạnh tranh thương mại bổ sung trong tương lai.

Vị thế của Thổ Nhĩ Kỳ trên thị trường đùn ép nhôm không hợp kim yếu hơn đáng kể so với đùn ép hợp kim

Năm 2025, EU nhập khẩu khoảng 1.790 mt CN 76041090 từ Thổ Nhĩ Kỳ, tăng khoảng 6,7% so với cùng kỳ năm trước.

Con số này chiếm khoảng 8,4% tổng lượng nhập khẩu được khai báo trong nhóm này.

Tỷ trọng này thấp hơn nhiều so với vị thế áp đảo của Thổ Nhĩ Kỳ trong các thị trường đùn ép nhôm hợp kim rỗng và đùn ép đặc được phân tích ở Phần I.

Sự khác biệt này cho thấy lợi thế của Thổ Nhĩ Kỳ trên thị trường đùn ép của EU chủ yếu tập trung ở đùn ép nhôm hợp kim, và chưa lan tỏa đồng đều sang tất cả các phân khúc con thuộc HS 7604.

Mức phơi nhiễm đơn vị theo lý thuyết của Thổ Nhĩ Kỳ đối với CN 76041090 vào khoảng:

3.741 × 1.10 − 1.493 × 97.5% ≈ 2,66 tCO₂e/mt

Mức này vẫn thấp hơn đáng kể so với khoảng 3,91 tCO₂e/mt của Trung Quốc, nhưng cao hơn mức tương ứng theo tuyến nhôm thứ cấp của Albania.

Cơ cấu quốc gia cung ứng đối với CN 76042910 rõ ràng hơn

So với CN 76041090,dữ liệu thương mại của CN 76042910 đối với thanh và que nhôm hợp kim rõ ràng hơn về mặt quy thuộc quốc gia.

Năm 2025, gần như toàn bộ lượng nhập khẩu có thể đối chiếu với các quốc gia đối tác thương mại cụ thể.

Trong đó, khoảng 83% lượng nhập khẩu đến từ các quốc gia thuộc phạm vi CBAM có thể xác định rõ ràng, và khoảng 16% đến từ các nguồn được miễn CBAM, chủ yếu gồm Na Uy và Thụy Sĩ.

Tỷ trọng các bản ghi thương mại không gắn với quốc gia là cực kỳ thấp.

Vì vậy, CN 76042910 phù hợp hơn để so sánh trực tiếp quy mô thương mại với các giá trị mặc định CBAM ở cấp quốc gia

Thổ Nhĩ Kỳ vẫn là nhà cung cấp lớn nhất, nhưng xuất khẩu giảm so với cùng kỳ năm trước trong năm 2025

Năm 2025, Thổ Nhĩ Kỳ vẫn là nhà cung cấp lớn nhất cho nhập khẩu của EU đối với CN 76042910, với lượng xuất khẩu sang EU khoảng 7.823 tấn.

Tuy nhiên, con số này giảm khoảng 10,5% so với cùng kỳ năm trước, từ mức khoảng 8.743 tấn năm 2024.

Thổ Nhĩ Kỳ chiếm khoảng 23,4% tổng nhập khẩu của EU trong nhóm này.

Na Uy đứng thứ hai với khoảng 3.404 tấn, nhưng các sản phẩm có nguồn gốc từ Na Uy không thuộc phạm vi CBAM.

Nguồn cung từ Trung Quốc khoảng 2.594 tấn, và từ Serbia khoảng 2.304 tấn.

UAE, Ấn Độ và Mỹ cũng duy trì nguồn cung ở một quy mô nhất định.

So với nhôm hợp kim ép đùn được thảo luận ở Phần I, nguồn cung của CN 76042910 rõ ràng đa dạng hơn. Dù Thổ Nhĩ Kỳ vẫn đứng đầu, thị phần của nước này thấp hơn nhiều so với mức trên 50% ghi nhận ở nhôm hợp kim ép đùn dạng rỗng và dạng đặc.

Mức phơi nhiễm đơn vị theo lý thuyết của Trung Quốc vẫn ở mức cao đáng kể

Năm 2025, EU nhập khẩu khoảng 2.594 tấn CN 76042910 từ Trung Quốc, thấp hơn khoảng 3.543 tấn năm 2024, giảm khoảng 26,8% so với cùng kỳ năm trước.

Trong nửa đầu năm 2026, mức giảm tiếp tục nới rộng, với nhập khẩu giảm khoảng 51,5% so với cùng kỳ năm trước xuống còn khoảng 817 tấn.

Giá trị chuẩn tuyến K tương ứng với CN 76042910 là 1,485 tCO₂e/tấn, thấp hơn nhẹ so với 1,493 tCO₂e/tấn đối với sản phẩm ép đùn.

Tính theo giá trị mặc định của Trung Quốc là 4,881 tCO₂e/tấn:

4,881 × 1,1 − 1,485 × 97,5% ≈ 3,92 tCO₂e/tấn

Kết quả này chỉ cao hơn nhẹ so với khoảng 3,91 tCO₂e/tấn đối với CN 76041090.

Đối với Thổ Nhĩ Kỳ, cùng khác biệt về phân loại sản phẩm này khiến mức phơi nhiễm đơn vị theo lý thuyết của CN 76042910 khoảng 2,67 tCO₂e/tấn, trong khi CN 76041090 khoảng 2,66 tCO₂e/tấn

Mặc dù chênh lệch về số liệu là hạn chế, chúng phản ánh một nguyên tắc quan trọng:

ngay cả khi cùng một quốc gia áp dụng đúng các giá trị mặc định giống hệt nhau, các sản phẩm CN khác nhau vẫn có thể khác nhau về mức phơi nhiễm CBAM lý thuyết cuối cùng do khác biệt về giá trị chuẩn (benchmark).

Vì vậy, phân loại sản phẩm chính xác vẫn là điều kiện cần trong tính toán CBAM.

Nguồn cung từ UAE sang châu Âu tăng vọt năm 2025

Trong bức tranh nguồn cung đối với CN 76042910, một trong những thay đổi đáng chú ý nhất năm 2025 đến từ UAE.

Nhập khẩu của EU từ UAE tăng từ khoảng 337 tấn năm 2024 lên khoảng 2.270 tấn năm 2025, tăng hơn 570% so với cùng kỳ .

Nhờ đó, UAE giành thị phần khoảng **6,8%**.

Trong khi đó, khối lượng thương mại từ hầu hết các quốc gia cung ứng truyền thống đều giảm.

Năm 2025, xuất khẩu sang EU từ Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Thụy Sĩ, Nhật Bản và Hàn Quốc đều giảm, trong khi nguồn cung từ Na Uy tăng khoảng một phần ba.

Do đó, dù tổng nhập khẩu của thị trường giảm, thị phần giữa các quốc gia cung ứng vẫn được phân bổ lại đáng kể.

Những thay đổi này cũng không nên được quy trực tiếp cho CBAM, đặc biệt khi năm 2025 vẫn nằm trong giai đoạn chuyển tiếp của cơ chế.

Tuy nhiên, khi bước vào giai đoạn triển khai chính thức, CBAM sẽ trở thành một biến số mới về chi phí và tuân thủ, cùng với các yếu tố cạnh tranh thị trường hiện hữu, định hình bức tranh nguồn cung.

Nhập khẩu thanh và que hợp kim nhôm nửa đầu 2026 tiếp tục thu hẹp

Sự suy yếu của thị trường CN 76042910 kéo dài sang năm 2026.

Trong nửa đầu năm 2026, nhập khẩu của EU khoảng 13.400 10 nghìn tấn, giảm khoảng 22,9% so với cùng kỳ .

Thổ Nhĩ Kỳ vẫn là nhà cung cấp lớn nhất, với lượng nhập khẩu khoảng 3.276 tấn , nhưng giảm khoảng 23,1% so với cùng kỳ .

Nhập khẩu từ Trung Quốc giảm khoảng 51,5% so với cùng kỳ, và nguồn cung sang EU từ Serbia và UAE cũng ghi nhận mức giảm mạnh.

Ngược lại, nhập khẩu từ Ấn Độ nhích lên, và nguồn cung từ Ai Cập cũng tăng lên

Vì vậy, ngay cả khi thị trường tổng thể tiếp tục thu hẹp, cơ cấu nhà cung cấp bên trong vẫn đang điều chỉnh nhanh chóng.

Cũng cần nhấn mạnh rằng chỉ riêng dữ liệu thương mại không thể xác lập mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa các thay đổi nêu trên và CBAM.

Tuy nhiên, kể từ khi giai đoạn triển khai chính thức bắt đầu vào năm 2026, mối liên hệ giữa dòng chảy thương mại và mức độ phơi nhiễm carbon sẽ ngày càng đáng được các bên tham gia thị trường quan tâm.

Hai sản phẩm này phản ánh các loại rủi ro dữ liệu CBAM khác nhau.

Nhìn chung, CN 76041090 và CN 76042910 lần lượt minh họa hai vấn đề khác nhau trong phân tích CBAM đối với các sản phẩm nhôm hạ nguồn.

Đối vớiCN 76041090, vấn đề then chốt nhất làxác định xuất xứ.

Do hơn 40% lượng nhập khẩu năm 2025 được ghi nhận là “Vùng biển quốc tế”, chỉ dựa vào cơ sở dữ liệu thương mại không thể ánh xạ chính xác một phần đáng kể giao dịch tới các giá trị mặc định theo từng quốc gia cụ thể.

Đối vớiCN 76042910, vấn đề xác định xuất xứ tương đối nhỏ, nhưng nguồn cung lại bị phân mảnh mạnh.

Điều này có nghĩa là ngay cả khi người mua EU mua các sản phẩm có cùng mã CN, họ vẫn có thể đối mặt với mức độ phơi nhiễm đối với các giá trị mặc định khác nhau đáng kể do khác biệt về quốc gia cung ứng.

Vì vậy, hai sản phẩm này cho thấy thêm rằng phân tích CBAM ngày càng phụ thuộc vào các thông tin sau:

phân loại sản phẩm CN8 + xuất xứ + tuyến công nghệ sản xuất tương ứng + phát thải của vật liệu tiền chất + dữ liệu phát thải thực tế đã được xác minh.

Chỉ sử dụng mã HS 4 chữ số ngày càng không thể phản ánh chính xác tình trạng phơi nhiễm CBAM thực tế.

Tầm quan trọng của dữ liệu phát thải thực tế đã được xác minh có thể còn tăng thêm.

Giá trị mặc định theo quốc gia luôn là tham số dự phòng, chứ không phải phép đo mức phát thải thực tế của một nhà sản xuất cụ thể.

Điều này đặc biệt quan trọng trong các thị trường nhôm hạ nguồn, nơi nguồn cung rất đa dạng.

Ngay cả khi hai doanh nghiệp cùng đặt tại một quốc gia và xuất khẩu sản phẩm theo cùng một mã CN, vẫn có thể có khác biệt rõ rệt về nhôm nguyên sinh, nhôm thứ cấp, nguồn điện và phôi nhôm thượng nguồn mà họ sử dụng, do đó mức phát thải hàm chứa thực tế cũng có thể khác nhau đáng kể

Nếu một doanh nghiệp có thể cung cấp dữ liệu phát thải thực tế đã được xác minh và chứng minh mức phát thải của mình rõ ràng thấp hơn giá trị mặc định quốc gia, thì có thể giảm mức nghĩa vụ chứng chỉ CBAM tương ứng cho khách hàng tại EU.

Ngược lại, các nhà cung cấp không thể cung cấp thông tin phát thải đầy đủ và có thể truy xuất nguồn gốc có thể sẽ tiếp tục phải dựa vào các giá trị mặc định quốc gia.

Trong tương lai, khác biệt này có thể ngày càng được phản ánh trong so sánh tổng chi phí đến nơi (total landed cost) giữa các nhà cung cấp khác nhau.

Đối với CN 76041090, hồ sơ chứng từ đáng tin cậy về xuất xứ và phát thải có thể đặc biệt quan trọng, vì số liệu thống kê thương mại hiện có đã cho thấy thị trường chứa một tỷ trọng đáng kể các bản ghi không thể quy rõ ràng cho các quốc gia cụ thể.

Tầm quan trọng của phân tích ở cấp độ sản phẩm theo CBAM tiếp tục gia tăng.

Dữ liệu thương mại chi tiết hơn cho thấy HS 7604 không phải là một thị trường đồng nhất.

Các sản phẩm ép đùn hợp kim nhôm chủ đạo được phân tích ở Phần I cho thấy mức độ tập trung thị trường cao tại Thổ Nhĩ Kỳ và thể hiện mối quan hệ rõ ràng giữa khối lượng thương mại và mức phơi nhiễm carbon trên đơn vị.

Trái lại, hai sản phẩm tương đối nhỏ được thảo luận trong bài này có cấu trúc hoàn toàn khác.

CN 76041090 ghi nhận tăng trưởng nhập khẩu nổi bật trong năm 2025, nhưng một phần đáng kể của tăng trưởng đến từ thống kê “High seas” và các đợt tăng vọt thương mại tạm thời từ một số quốc gia, thay vì sự mở rộng trên diện rộng của các nhà cung cấp truyền thống chủ chốt.

CN 76042910 tiếp tục thu hẹp trong năm 2025 và nửa đầu năm 2026, trong khi thị phần giữa Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc, UAE, Ấn Độ và các quốc gia cung ứng khác tiếp tục điều chỉnh.

Trong khi đó, do có khác biệt nhỏ về các giá trị chuẩn áp dụng cho các mã CN khác nhau, ngay cả trong HS 7604, mức phơi nhiễm theo Cơ chế Điều chỉnh Biên giới Carbon (CBAM) về mặt lý thuyết của các sản phẩm khác nhau cũng không hoàn toàn giống nhau.

Khi CBAM được triển khai sâu hơn, năng lực cạnh tranh của các sản phẩm nhôm hạ nguồn sẽ ngày càng phụ thuộc vào:

tác động tổng hợp của phân loại sản phẩm, quốc gia xuất xứ, tuyến công nghệ sản xuất, phát thải hàm chứa thực tế, chất lượng dữ liệu carbon và năng lực cạnh tranh thương mại truyền thống.

Đối với các nhà nhập khẩu EU và các nhà cung cấp toàn cầu sản phẩm nhôm, mức độ chi tiết ngày càng tăng của các quy tắc CBAM đồng nghĩa rằng, trong hoạt động mua sắm, đàm phán hợp đồng và quy trình lựa chọn nhà cung cấp,dữ liệu chi tiết ở cấp độ sản phẩm và cấp độ lô hàng sẽ ngày càng quan trọng hơn

Tuyên bố về Nguồn Dữ liệu: Ngoại trừ thông tin công khai, tất cả dữ liệu khác được SMM xử lý dựa trên thông tin công khai, giao tiếp thị trường và dựa trên mô hình cơ sở dữ liệu nội bộ của SMM. Chúng chỉ mang tính chất tham khảo và không cấu thành khuyến nghị ra quyết định.

Để biết thêm thông tin hoặc có thắc mắc gì, vui lòng liên hệ: lemonzhao@smm.cn
Để biết thêm thông tin về cách truy cập báo cáo nghiên cứu, vui lòng liên hệ:service.en@smm.cn
Tin Liên Quan
Luopusijin và Zhongyifeng sẽ cùng đầu tư 21 triệu vào Tô Châu để phát triển công nghiệp.
3 giờ trước
Luopusijin và Zhongyifeng sẽ cùng đầu tư 21 triệu vào Tô Châu để phát triển công nghiệp.
Đọc thêm
Luopusijin và Zhongyifeng sẽ cùng đầu tư 21 triệu vào Tô Châu để phát triển công nghiệp.
Luopusijin và Zhongyifeng sẽ cùng đầu tư 21 triệu vào Tô Châu để phát triển công nghiệp.
Vào ngày 23 tháng 8, Luopusijin thông báo công ty dự kiến cùng đầu tư với bên liên quan Zhongyifeng Urban Construction để thành lập Công ty TNHH Đầu tư Công nghiệp Tô Châu Trung Kiệt, với vốn điều lệ 21 triệu nhân dân tệ. Công ty sẽ góp 10,71 triệu nhân dân tệ bằng tiền mặt, nắm giữ 51% cổ phần và là cổ đông kiểm soát; bên liên quan sẽ góp 10,29 triệu nhân dân tệ, nắm giữ 49% cổ phần. Liên doanh sẽ tập trung vào đầu tư chuỗi ngành, nhằm hỗ trợ phát triển phối hợp các mảng kinh doanh cốt lõi của công ty, bao gồm ép nhôm, kiểm định và thử nghiệm, và xây dựng thông minh. Giao dịch này cấu thành giao dịch với bên liên quan và đã được hội đồng quản trị xem xét và phê duyệt.
3 giờ trước
China Hongqiao báo cáo doanh thu tăng 8,0% và lợi nhuận ròng tăng 39,2% trong nửa đầu năm 2026.
3 giờ trước
China Hongqiao báo cáo doanh thu tăng 8,0% và lợi nhuận ròng tăng 39,2% trong nửa đầu năm 2026.
Đọc thêm
China Hongqiao báo cáo doanh thu tăng 8,0% và lợi nhuận ròng tăng 39,2% trong nửa đầu năm 2026.
China Hongqiao báo cáo doanh thu tăng 8,0% và lợi nhuận ròng tăng 39,2% trong nửa đầu năm 2026.
Ngày 21/8, China Hongqiao công bố kết quả kinh doanh chưa kiểm toán sáu tháng kết thúc ngày 30/6/2026. Doanh thu tăng khoảng 8,0% so với cùng kỳ năm trước, lên khoảng 87,506 tỷ nhân dân tệ; lợi nhuận ròng thuộc về cổ đông của công ty tăng khoảng 39,2% so với cùng kỳ năm trước, lên khoảng 17,21 tỷ nhân dân tệ. Lợi nhuận ròng tăng chủ yếu nhờ giá bán sản phẩm hợp kim nhôm của Tập đoàn tăng so với cùng kỳ, sản lượng tiêu thụ sản phẩm hợp kim nhôm gia công sâu tăng so với cùng kỳ và giá bán các sản phẩm này tăng so với cùng kỳ. Trong kỳ, sản lượng tiêu thụ sản phẩm hợp kim nhôm của Tập đoàn đạt khoảng 2,811 triệu tấn, giảm khoảng 3,3% so với mức khoảng 2,906 triệu tấn cùng kỳ năm trước; sản lượng tiêu thụ sản phẩm alumin của Tập đoàn đạt khoảng 6,917 triệu tấn, tăng khoảng 8,6% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tiêu thụ sản phẩm hợp kim nhôm gia công sâu của Tập đoàn đạt khoảng 444.000 tấn, tăng khoảng 23,2% so với cùng kỳ năm trước.
3 giờ trước
Lops King báo cáo doanh thu giảm 11,21% trong nửa đầu năm 2026, dù doanh số bán hàng tăng và giá anode tăng.
3 giờ trước
Lops King báo cáo doanh thu giảm 11,21% trong nửa đầu năm 2026, dù doanh số bán hàng tăng và giá anode tăng.
Đọc thêm
Lops King báo cáo doanh thu giảm 11,21% trong nửa đầu năm 2026, dù doanh số bán hàng tăng và giá anode tăng.
Lops King báo cáo doanh thu giảm 11,21% trong nửa đầu năm 2026, dù doanh số bán hàng tăng và giá anode tăng.
Ngày 23 tháng 8, Lops King công bố báo cáo bán niên năm 2026. Trong nửa đầu năm 2026, công ty đạt tổng doanh thu hoạt động 681 triệu nhân dân tệ, giảm 11,21% so với cùng kỳ năm ngoái; lợi nhuận ròng thuộc về công ty mẹ là 20,0869 triệu nhân dân tệ, giảm 36,07% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong kỳ báo cáo, chuỗi ngành nhôm nguyên sinh liên quan đến cực dương nung trước duy trì đà phát triển lành mạnh. Nhờ giá nhôm nguyên sinh tăng và nhu cầu thị trường mạnh mẽ, giá của nguyên liệu chính than cốc dầu mỏ và sản phẩm cốt lõi của công ty, cực dương nung trước, đã cùng tăng. Trong khi đó, doanh số bán hàng của công ty tăng khoảng 10% so với cùng kỳ năm ngoái. Những yếu tố này cùng nhau thúc đẩy doanh thu hoạt động của công ty tăng so với cùng kỳ năm ngoái.
3 giờ trước