SMM ngày 26 tháng 8 tin:
Than silic
Giá:
Gần đây, gi than silic tại c�c v�ng sản xuất kh�c nhau đ� phn h�a. Gi than kết Tân Cương yếu đi từ đầu thꢁng, trong khi gi than silic Cam Tꢂc v Ninh Hạ tăng nhẹ với tốc đ khꢁc nhau. Giꢁ tꢁi c�c khu vực kh�c hầu như ổn định. Cụ thể, than silic kết t�i Tân Cương khoảng 1.160 nhân dân tệ/tấn, than silic dạng hạt t�i Cam T�c l 1.240 nhân dân tệ/tấn, than silic hỗn hợp l 1.160 nhân dân tệ/tấn, than silic tꢁi Nội Mông l 1.340 nhân dân tệ/tấn, v than silic khng kết tꢁi Tân Cương l 855 nhân dân tệ/tấn.
Kim loại silic
Giꢁ:
Hôm qua, silic #553 thổi ooy của SMM tại Đng Trung Quốc khoảng 9.300-9.500 nhân dân tệ/tấn, v silic #441 khoảng 9.500-9 .600 nhân dân tệ/tấn. Thị trường gần đây giao dịch chủ yế dựa trên kỳ vọng về việ cắt giảm sản xuất của c�c nh m�y lớn t�i Tân Cương v o cuố th�ng. Tm lý thị trường lạc quan nhưng quan điểm vẩn thận trọng, người dng hạ ngồn mua hng the nhu cầu.
Sản xuất:
Đầu thꢁng 8, sản lượng kim loại silic tꢁi nhiều khu vực như Cam T�c v Tứ Xuyên đ� cắt giảm. Sản lượng thꢁng 8 giảm đꢁng kể so với thꢁng 7. Cuối thꢁng 8, cꢁc nh máy lớn ở ph�a Bắc c kế hoạch cắt giảm sản xuất. Cần ch đến việ thực hiệ cc đợt cắt giảm n�y.
Tồn kho:
Theo thống kê củ SMM, thꢁnh đến ngꢁy 20 thꢁng 8, tồn kho x hội củ kim loại silic tại cꢁc khu vực chꢁnh lên tới 493 .000 tấn, giảm 8.000 tấn so vớ tuần trước (khng bao gồm Nội Mổng, Ninh Hạ v Cam T�c). Việ lấy hng tiếp tục ở một số kh kho vự, lng tồn kho tại kho thự tế giảm so vớ tuần trước. Tồn kho ṭại nhꢭ mꢭy tăng.
Silicone
Giꢁ
DMC: Hôm qua niêm yết ở mứ 13.200-13.800 nhân dân tệ/tấn, với gi gao dịnh chnh ở mứ 13.200-13.500 nhân dân tệ/tấn. Mức gi� trung tâm đă tăng so vớ tuần trước. Một số nh� my monomer lạ tăng bo gi hôm qua, nhưng mua hng hạ nguồn thận trọng, chủ yếu tập trung v o bổ sung hng cho nhu cầu cứng.
D4: Hôm qua niêm yết ở mức 13.600-14.000 nhân dân tệ/tấn, với mứ trung bnh khong 13.500 nhân dân tệ/tấn.
107 Cao su Silicone: Hôm qua niêm yết ở mức 13.700-14.000 nhân dân tệ/tấn, với mứ trung bnh khong 13.850 nhân dân tệ/tấn.
Cao su silicone thô: Niêm yết ở mức 14.200-14.800 nhân dân tệ/tấn hôm qua, trung bình khoảng 14.500 nhân dân tệ/tấn.
Dầu silicone: Niêm yết ở mức 14.700-15.500 nhân dân tệ/tấn hôm qua, trung bình khoảng 15.100 nhân dân tệ/tấn.
Sản xuất:
Trong tháng 8, việc giảm sản lượng phối hợp của ngành tiếp tục, tỷ lệ vận hành tổng thể duy trì khoảng 60%. Một số nhà máy monomer đang bảo trì hoặc giảm tải. Hiện tại, các nhà máy monomer có lượng đơn đặt hàng tồn đọng đủ, với đơn hàng của một số doanh nghiệp kéó dài đến cuối tháng 8 đến đầu tháng 9.
Tồn kho:
Tồn kho của nhà máy monomer ở mức thấp giữa năm. Tốc độ giảm tồn kho tiếp theo sẽ được thúc đẩy bởi khối lượng mua thực tế từ hạ nguồn.
Polysilicon
Giá:
Polysilicon loại nạp N được niêm yết ở mức 38,7-42,7 nhân dân tệ/kg. Báo giá của nhà sản xuất tương đối ổn định gần đây, vớ i rất ít gia o dịch trên thị trường. Hạ nguồn có một số phản kháng đối vớ i nguồn tài nguyên giá cao.
Sả n xuấ t
Sả n lượ ng polysilicon tiế p tụ c tă ng tro ng thá ng 8, vớ i sả n lượ ng có khả nă ng vượ t quá 110.000 tấ n. Mộ t số cơ sở có kế hoạ ch phụ c hồ i sả n xuấ t sau đó , và sả n lượ ng dự kiế n sẽ tiế p tụ c tă ng trong thá ng 9.
Tồ n kho:
Tồ n kho thượ ng nguồ n hiệ n tạ i tiế p tụ c tí ch lũ y, tro ng khi tồ n kho củ a nhà giao dịch giả m khi gia o dịch hạ nguồ n tiế n triể n.
Wafer
Giá
Giá thị trường cho wafer 18X là 1,113-1,129 nhân dân tệ/chiếc, cho wafer 210RN là 1,113-1,149 nhân dân tệ/chiếc, và cho wafer 210N là 1,18-1,248 nhân dân tệ/chiếc. Giá wafer 210R và 210N duy trì xu hướng giảm. Dựa trên giá nguyên liệu thô có thể mua được hiện tại, mức thấp củ a dả i giá niêm yết củ a mỗ i doanh nghiệ p đã tiế n gầ n đế n chi phí tiề n mặ t, khiế n cho khả năng giảm mạnh hơn nữ a tương đối không cao. Các yế u tố chính cầ n theo dõ i là xu hướng giá nguyên liệu thô và kỳ vọng chính sách.
Sản xuất
Theo phản hồi khảo sát SMM mới nhất, sản lượng tháng 8 giảm 1-2 GW so với tháng trước. Mặc dù sản xuất đã giảm trong hai tháng liên tiếp, tổng sản lượng vẫn tương đối cao so với nhu cầu. Tháng này, nhiều dây chuyền sản xuất 210 đã bắt đầu chuyển sang 183, với công suất cắt vận hành gần hết công suất. Có thời điểm, 210 thỏi được cắt trực tiếp thành 183 tấm wafer, nguyên liệu thừa được tái chế, cho thấy mức độ nghiêm trọng của tình trạng khan hiếm nguồn cung wafer 183 hiện nay.
Tồn kho
Xu hướng tích trữ hàng tồn kho giữa các doanh nghiệp wafer cho thấy sự khác biệt rõ rệt. Hàng tồn kho của các công ty hàng đầu đã vượt quá mức hợp lý. Ấn Độ bắt đầu tích trữ, và nhu cầu đối với đơn hàng dòng P-type 18X tăng mạnh. Ngoài ra, nhu cầu trung chuyển cũng tăng lên, với nhiều quốc gia châu Phi nằm trong số các điểm đến xuất khẩu hàng đầu.
Cát thạch anh độ tinh khiết cao
Giá cả
Hiện tại, giá cát lớp trong nội địa dao động 40.000-47.000 NDT/tấn, cát lớp giữa 21.000-24.000 NDT/tấn, và cát lớp ngoài 12.500-18.000 NDT/tấn, trong khi giá cát thạch anh độ tinh khiết cao nhập khẩu ở mức 50.000-54.000 NDT/tấn. Giá nồi nấu thạch anh 33 inch là 5.800-6.000 NDT/cái, và nồi nấu thạch anh 36 inch là 6.500-6.600 NDT/cái. Giá của cả nồi nấu 36 inch và 33 inch đều đang giảm. Các công ty hàng đầu bắt đầu nới lỏng giá từ từ, và sự chênh lệch giá giữa nồi nấu hạng hai và hạng ba là rõ rệt.
Sản xuất
Trong tháng 8, sản lượng sản xuất cát thạch anh độ tinh khiết cao trong nước dự kiến giảm khoảng 1% so với tháng trước, chủ yếu do sản xuất wafer đã bị cắt giảm trong hai tháng liên tiếp, khiến các nhà sản xuất nồi nấu phải tính toán nhu cầu để phù hợp với nguồn cung, từ đó làm chậm tốc độ thu mua cát thạch anh. Gần đây, tiêu thụ cát cho bán dẫn, tấm thạch anh quang điện (PV) và các vật tư tiêu hao khác đã tăng nhẹ.
Tồn kho
Trong tháng 8, tồn kho cát nhập khẩu tiếp tục tăng. Trong quý 3 năm 2026, các doanh nghiệp wafer mua nồi nấu một cách hợp lý dựa trên kế hoạch sản xuất của họ, dẫn đến mức tồn kho cát thạch anh tổng thể tiếp tục tăng.



