
Ngày 19 tháng 8, Bộ trưởng Năng lượng và Tài nguyên Khoáng sản Indonesia, ông Bahlil Lahadalia, phát biểu tại Hội nghị và Triển lãm Địa nhiệt Quốc tế Indonesia lần thứ 12 (IIGCE 2026) rằng chính phủ đã thảo luận chương trình với Tổng Giám đốc PLN, ông Darmawan Prasodjo, và dự kiến sẽ khởi động đấu thầu giai đoạn đầu cho 30 GW dự án năng lượng mặt trời vào năm 2026.
Ông Bahlil cho biết chính phủ sẽ chuyển sang giai đoạn 30 GW đầu tiên và bắt đầu quy trình đấu thầu trong năm nay. Tổng thống Indonesia, ông Prabowo Subianto, trước đó đã đề xuất phát triển 100 GW công suất năng lượng mặt trời trong những năm tới, đồng thời đẩy nhanh việc ngừng hoạt động các nhà máy phát điện diesel.
SMM cho rằng thông báo này cho thấy sự tăng tốc rõ rệt trong chính sách năng lượng mặt trời của Indonesia. Tuy nhiên, việc khởi động đấu thầu vẫn còn nhiều bước so với xây dựng và kết nối lưới điện. Ở giai đoạn này, con số 30 GW nên được coi là một đường ống dự án giai đoạn đầu mang tính định hướng và tham vọng mua sắm, chứ không phải là 30 GW công suất lắp đặt mới hoặc nhu cầu module ngay lập tức trong năm 2026.
Mục tiêu giai đoạn đầu tăng từ 17 GW lên 30 GW
Vào tháng 5 năm 2026, Bộ Năng lượng và Tài nguyên Khoáng sản Indonesia đã đề xuất thúc đẩy 17 GW dự án năng lượng mặt trời ban đầu có kèm lưu trữ năng lượng. Tuyên bố mới nhất của ông Bahlil nâng mục tiêu giai đoạn đầu lên 30 GW, làm tăng đáng kể tham vọng phát triển ngắn hạn của chính phủ.

Việc tăng từ 17 GW lên 30 GW trong vòng vài tháng cũng cho thấy chương trình 100 GW vẫn đang trong quá trình thiết kế và phối hợp chính sách nhanh chóng. Nhu cầu thực tế sẽ phụ thuộc vào các tài liệu đấu thầu chính thức xác định vị trí dự án, quy mô lô, mô hình phát triển, thỏa thuận mua điện, yêu cầu lưu trữ và lịch trình kết nối lưới.
Theo Bộ Năng lượng, công suất năng lượng mặt trời lũy kế của Indonesia vào cuối năm 2025 là khoảng 1,49 GW. Trên cơ sở đó, mục tiêu giai đoạn đầu 30 GW gấp khoảng 20 lần cơ sở lắp đặt hiện tại, trong khi tham vọng 100 GW lớn gần gấp 67 lần.
Mở rộng quy mô này sẽ ảnh hưởng nhiều hơn đến nguồn cung module. Nó cũng sẽ thử nghiệm khả năng cung cấp inverter, hệ thống lưu trữ, máy biến áp, cơ sở hạ tầng truyền tải và phân phối, đất đai, năng lực kỹ thuật, tài chính và dịch vụ vận hành bảo trì dài hạn.
Kế hoạch 30 GW vẫn cần được điều chỉnh chính thức với RUPTL
Kế hoạch Kinh doanh Cung cấp Điện của Indonesia (RUPTL 2025–2034) yêu cầu 69,5 GW công suất phát điện và lưu trữ mới trong vòng 10 năm. Năng lượng tái tạo mới chiếm khoảng 42,6 GW, tương đương 61%, trong khi lưu trữ pin và thủy điện tích năng chiếm khoảng 10,3 GW, tương đương 15%. Sản xuất từ nhiên liệu hóa thạch chiếm 16,6 GW còn lại, tương đương 24%.
Tuyên bố của chính phủ rằng khoảng 76% công suất bổ sung theo kế hoạch là 'xanh' do đó kết hợp 61% năng lượng tái tạo mới với 15% lưu trữ. Điều này không có nghĩa là tất cả 76% là công suất phát điện, cũng không có nghĩa là năng lượng tái tạo sẽ cung cấp 76% điện năng của Indonesia vào năm 2034.
RUPTL hiện tại bao gồm khoảng 17,1 GW công suất năng lượng mặt trời mới vào năm 2034, thấp hơn nhiều so với mục tiêu giai đoạn đầu 30 GW vừa được công bố. Do đó, chương trình 100 GW có thể yêu cầu sửa đổi RUPTL, một cơ chế mua sắm chuyên dụng hoặc các thỏa thuận dự án bổ sung ở cấp quốc gia.
Lộ trình trước đó chia chương trình thành các giai đoạn phát triển 17 GW, 18 GW và 35 GW, cộng thêm 30 GW đang nghiên cứu thêm, không phải là phiên bản chính sách hoặc phạm vi tương tự như thông báo đấu thầu 30 GW giai đoạn đầu vào ngày 19 tháng 8. Cho đến khi các tài liệu quy hoạch và danh sách dự áán được cập nhật chính thức, thị trường không nên đưa toàn bộ mục tiêu chính trị 30 GW vào dự báo lắp đặt chắc chắn.
Thay thế diesel làm cho lưu trữ và sẵn sàng lưới điện trở nên quan trọng
Chính phủ Indonesia cũng đã đề xuất đẩy nhanh việc ngừng hoạt động khoảng 13 GW công suất diesel vào năm 2026 và thay thế bằng năng lượng mặt trời và các nguồn phi hóa thạch khác. Chính sách này nhằm giảm sự phụ thuộc của các đảo xa và khu vực lưới yếu vào diesel và nhiên liệu nhập khẩu, giảm cả trợ cấp tài chính và chí phí cung cấp điệ năng.
Tuy nhiên, công suất năng lượng mặt trời và công suất phát điện diesel không thể thay thế một-một. Với hệ số công suất 15–20%, 30 GW năng lượng mặt trời sẽ tạo ra sản lượng trung bình khoảng 4,5–6 GW trong một năm và không phát điện vào ban đêm. Do đó, việc thay thế diesel đáng tin cậy sẽ đòi hỏi đủ lưu trữ pin, phát điện có thể điều độ, kiểm soát lưới điện siêu nhỏ và công suất dự phòng.
Thống kê điện quốc gia Indonesia năm 2024 báo cáo khoảng 5,82 GW công suất diesel, một sự khác biệt đáng kể so vớ i con số ngừng hoạt độ ng 13 GW đượ c đề xuất. Vẫ n chư a rõ liệ u phạ m vi13 GW có bao gồm cá c đơ n vị thuê, má y phát ngoà i lướ i, cá c đơ n vị dự phòng hoặ c cá c tà i sả n dầ u khá c. Đánh giá quy mô thự c tế củ a việ c thay thế diesel sẽ yêu cầ u thô ng tin cấp nhà máy bao gồm vị trí hệ thống, giờ vận hành, chi phí nhiên liệu và nguồn thay thế.
Một khá i niệ m trướ c đâ y cho chư ơ ng trì nh 100 GW bao gồm khoả ng 80 GW nă ng lư ợ ng mặ t trờ i phâ n tán cấp làng và20 GW nă ng lư ợ ng mặ t trờ i quy mô tiệ n ích. Thà nh phầ n làng dự kiế n bao phủ khoả ng 80.000 ngô i làng, mỗ i làng khoả ng 1 MW nă ng lư ợ ng mặ t trờ i và tổ ng d ung pin lư u trữ 320 GWh.

Nế u đư ợc giữ lạ i, thiế t kế đó có thể tạ o ra nhu cầ u lư n lư ợng cho lư u trữ , lướ i điệ n siê u nhỏ và hệ thố ng quả n lý nă ng lư ợ ng. Tuy nhiên, chư a đư ợc xá c nhậ n rằ ng đấ u thầ u 30 GW đầ u tiên sẽ tuâ n theo cù ng cấ u trú c 80 GW phâ n tán và 20 GW quy mô tiệ n ích.
Cá c tà i liệ u đấ u thầ u cũ ng sẽ cầ n phâ n biệ t cô ng suấ t lư u trữ vớ i nă ng lư ợ ng lư u trữ bằ ng cá ch nê u rõ cà GW và GWh, cù ng vớ i thờ i gian phó ng điệ n. Mộ t con số 'cô ng suấ t' lư u trữ mà khô ng có thờ i gian phó ng điệ n thì khô ng đủ để đánh giá việ c thay thế diesel hoặ c độ tin cậ y củ a hệ thố ng.
Truyề n tả i là mộ t rà o cả n khá c. RUPTL lậ p kế hoạ ch khoả ng 48.000 km mạ ch truyề n tả i và khoả ng 108.000 MVA cô ng suấ t trạ m biế n á p để giả i quyế t sự khô ng phù hợ p về mặ t đị a lý giữ a cá c nguồ n nă ng lư ợ ng tá i tạ o và cá c trung tâ m phụ tả i. Trong mộ t quầ n đả o gồ m nhiề u hò n đả o và cá c hệ thố ng điệ n độ c lậ p, cá c nú t thắ t c hí nh có thể là tà i chí nh, tiế p cậ n đấ t đai, nâ ng cấ p lướ i điệ n siê u nhỏ , cung ứ ng má y biế n á p, phê duyệ t kế t nố i và vậ n hà nh dà i hạ n hơ n là khả nă ng cung ứ ng module.
Yê u cầ u TKDN có thể tạ o ra mộ t thị trư ờ ng module ha i cấ p
Cá c quy tắ c nộ i dung đị a phư ơ ng sẽ trự c tiế p đị nh hì nh việ c mua sắ m thiế t bị theo chư ơ ng trì nh 30 GW. The o nghiê n cứ u củ a SMM, nhu cầ u đố i vớ i cá c module tuâ n thủ khun khổ nộ i dung đị a phư ơ ng củ a Indonesia, đư ợ c gọ i là TKDN, đ ang tă ng trong cá c dự á n củ a chí nh phủ và ô PLN. Mộ t số dự á n đã bắ t đầ u că n chị nh vớ i cá c yê u cầ u cù a TKDN 4.0 trong nă m 2026, tạ o lợ i thế tiế p cậ n rõ rà ng cho cá c nhà sả n xuấ t module trong nư ớ c nơ i yê u cầ u nộ i dung đị a phư ợ ng là bắ t buộ c.
Nghiê n cứ u củ a SMM và o thá ng 6 nă m 2026 đư a ra giá FOB cả ng Trung Quố c cho module TOPCon ở mứ c khoả ng $0,110/W và giá CIF và o Indonesia khoả ng $0,114–0,120/W. So sá nh, module TOPCon sả n xuấ t tạ i Indonesia đư ợ c bá o giá khoả ng $0,130/W vớ i hà m lư ợ ng TKDN 25%, $0,150/W ở mứ c 40%, và cao nhấ t khoả ng $0,185/W vớ i hà m lư ợ ng nộ i dung đị a phư ơ ng trên 40%.

Module nhậ p khẩ u giá thấ p hơ n có thể giả m chi phí ban đầ u cho cá c dự á n theo thị trư ờ ng, như ng có thể khô ng đá p ứ ng đư ợc cho cá c dự á n củ a chí nh phủ hoặ c PLN vớ i yê u cầ u nộ i dung đị a phư ợ ng bắ t buộ c. Khi đấ u thầ u 30 GW tiế n triể n, Indonesia có thể phá t triể n ha i kê nh giá module riê ng biệ t: mộ t kê nh giá thị trư ờ ng thư ơ ng mạ i dẫ n đầ u bở i cá c sả n phẩ m hiệ u suấ t cao nhậ p khẩ u và mộ t kê nh giá dự á n chí nh sá ch dẫ n đầ u bở i cá c module TKDN tuâ n thủ đị a phư ơ ng.
Chí nh sá ch TKDN có thể hồ trợ sả n xuấ t tạ i Indonesia cá c tế bà o, module, kí nh, khuô n vỏ và cá c vậ t liệ u khá c. Đồ ng thờ i, mứ c phụ phí nộ i dung đị a phư ợ ng cao có thể là m tă ng chi phí vố n dự á n, giá mua điệ n và á p lự c tà i chí nh. Câ n bằ ng phá t triể n cô ng nghiệ p vớ i triể n khai nă ng lư ợ ng mặ t trờ i giá thấ p sẽ là mộ t đặ c điể m chí nh củ a thiế t kế đấ u thầ u.
Khố i lư ợ ng đấ u thầ u khô ng phả i là đơ n hà ng module PV ngắ n hạ n
Cá c mố c thờ i gian dự á n hiệ n tạ i củ a Indonesia cho thấ y rằ ng cá c đấ u thầ u lớ n có thể mấ t và i nă m để đạ t vậ n hà nh thư ơ ng mạ i. PLN đã khở i độ ng đấ u thầ u 1,225 GW Mentari Nusantara I và o thá ng 4 nă m 2026 theo cơ chế mua sắ m gó i 'GIGA-ONE' củ a mì nh, vớ i vậ n hà nh thư ơ ng mạ i dự kiế n và o nă m 2029.
Ngay cả khi đấ u thầ u 30 GW đầ u tiên bắ t đầ u vào nă m 2026, việ c mua sắ m module, kế t thú c tà i chí nh, xâ y dự ng và kế t nố i lướ i điệ n có thể sẽ đư ợ c triể n khai theo giai đoạ n. Mụ c tiê u nà y mở rộ ng đá ng kể tiề m nă ng thị trư ờ ng trung hạ n và dà i hạ n củ a Indonesia cho module, inveter và lư u trữ , như ng khô ng nê n coi toà n bộ cô ng suấ t là nhu cầ u giao ngay ngắ n hạ n.
Nhu cầ u thiế t bị có thể tà i trợ sẽ đế n từ cá c dự á n đã đư ợ c trao thầ u, ký thỏ a thuậ n mua bá n điệ n, đả m bả o quyề n sử dụ ng đấ t và kế t nố i, và đạ t đư ợ c tà i trợ tà i chí nh.
Thờ i gian chuyể n đổ i và thự c hiệ n dự á n quan trọ ng hơ n cô ng suấ t danh nghĩ a
SMM cho rằ ng đề xuấ t củ a Indonesia về việ c khở i độ ng đấ u thầ u giai đoạ n đầ u 30 GW đá nh dấ u sự chuyể n dị ch củ a chư ơ ng trì nh nă ng lư ợ ng mặ t trờ i 100 GW từ tham vọ ng chí nh sá ch sang mua sắ m và thự c hiệ n. Chư ơ ng trì nh có thể cả i thiệ n đá ng kể triể n vọ ng nhu cầ u trung hạ n và dà i hạ n đố i vớ i nă ng lư ợ ng mặ t trờ i, lư u trữ nă ng lư ợ ng và lướ i điệ n siê u nhỏ trê n khắ p Đô ng Nam Á. Tuy nhiên, ở giai đoạ n nà y, cá c biế n chí nh quyế t đị nh tă ng trư ở ng thị trư ờ ng thự c tế khô ng phả i là con số 30 GW danh nghĩ a củ a nó, mà là tỷ lệ chuyể n đổ i và tiế n độ thự c hiệ n củ a cá c dự á n đầ u tiên.
Thị trư ờ ng nê n theo dõ i cá c cộ t mố c sau:
1. Tà i liệ u đấ u thầ u chí nh thứ c củ a PLN, bao gồ m việ c 30 GW sẽ đư ợ c mua sắ m trong mộ t đợ t duy nhấ t hay chia the o nă m và khu vự c.
2. Phân bổ công suất giữa điện mặt trời phân tán, điện mặt trời quy mô tiện ích, các dự án năng lượng khác và hệ thống lưu trữ năng lượng.
3. Hợp đồng mua bán điện (PPA), biểu giá dự án, bảo lãnh tài chính và vai trò đề xuất của các hợp tác xã.
4. Yêu cầu về công suất và dung lượng năng lượng của hệ thống lưu trữ (GW và GWh), thời lượng xả và cơ chế thay thế pin.
5. Ngưỡng tỷ lệ nội địa hóa TKDN, các miễn trừ tiềm năng và năng lực cung ứng thực tế của ngành mô-đun nội địa Indonesia.
6. Danh sách loại bỏ ở cấp dự án và lịch trình thay thế cho đề xuất 13 GW phát điện chạy dầu diesel.
7. Các mốc trao thầu dự án, chốt tài chính, khởi công xây dựng và vận hành thương mại.
Trần chính sách điện mặt trời của Indonesia đang tăng nhanh, nhưng các cơ hội mạnh nhất nhiều khả năng sẽ nghiêng về những doanh nghiệp kết hợp tuân thủ quy định địa phương với tích hợp hệ thống, khả năng thích ứng với lưới điện yếu, cấu hình lưu trữ và năng lực vận hành & bảo trì dài hạn. Cạnh tranh cũng được dự báo sẽ dịch chuyển từ chỉ giá mô-đun sang các giải pháp tích hợp “điện mặt trời + lưu trữ + vi lưới + tài chính + triển khai nội địa”.
SMM sẽ tiếp tục theo dõi hồ sơ mời thầu, chuyển đổi dự án, yêu cầu lưu trữ, quy định TKDN và các tác động của chúng đến nhu cầu thiết bị và triển khai dự án.
Ngoài ra, Hội nghị Thượng đỉnh SMM ASEAN Solar-Storage 2026 sẽ diễn ra vào ngày 10–11/11/2026 tại Jakarta, Indonesia. Hội nghị sẽ phân tích xu hướng thị trường điện mặt trời và lưu trữ năng lượng của ASEAN, khung chính sách, yêu cầu tỷ lệ nội địa hóa, đổi mới công nghệ, phát triển dự án và hợp tác đầu tư – tài chính. Sự kiện gồm diễn đàn chính, kết nối giao thương và tham quan doanh nghiệp, dự kiến quy tụ hơn 250 đại diện ngành từ hơn 11 quốc gia và vùng lãnh thổ, cùng hơn 25 diễn giả và hơn 10 giờ kết nối kinh doanh.
Khi chương trình điện mặt trời 100 GW của Indonesia tiến tới giai đoạn đấu thầu và triển khai, khả năng tiếp cận dự án, đối tác địa phương, kênh tài chính và năng lực giao hàng sẽ ngày càng quan trọng. Hội nghị sẽ cung cấp một nền tảng không chỉ để đánh giá diễn biến chính sách và nhu cầu trên toàn Indonesia và ASEAN, mà còn để kết nối các cơ quan nhà nước, công ty điện lực, nhà phát triển dự án, nhà thầu EPC, nhà cung cấp thiết bị điện mặt trời và lưu trữ, đơn vị tích hợp hệ thống và các tổ chức tài chính. Thảo luận và kết nối giao thương sẽ giúp doanh nghiệp tìm kiếm hợp tác về phát triển dự án, mua sắm thiết bị, tuân thủ TKDN, cấu hình lưu trữ và tài trợ dự án, hỗ trợ chuyển dịch từ hiểu thị trường sang thiết lập quan hệ đối tác và thúc đẩy các dự án có thể đầu tư.

![[Thông báo kết quả trúng thầu mua sắm tập trung đợt thứ hai năm 2026 của Tập đoàn Năng lượng Quảng Đông đối với mô-đun quang điện]](https://imgqn.smm.cn/usercenter/Jzkij20251217171737.jpg)
![[Hôm nay, giá thị trường của các module PV cơ bản ổn định]](https://imgqn.smm.cn/usercenter/ZbnfH20251217171741.jpg)
![[SMM PV Tin Nhanh] Thêm một dây chuyền sản xuất tế bào màng mỏng ghép nối silicon tinh thể-perovskite chính thức đi vào sản xuất](https://imgqn.smm.cn/usercenter/NWqnx20251217171739.jpg)
