Theo dữ liệu từ Tổng cục Hải quan, xuất khẩu tấm/lá và dải đồng của Trung Quốc trong tháng 7/2026 đạt 13.307,67 tấn, giảm 0,87% so với tháng trước và tăng 26,54% so với cùng kỳ; lũy kế từ tháng 1 đến tháng 7, tổng xuất khẩu tấm/lá và dải đồng đạt 84.624,57 tấn, tăng 19,28% so với cùng kỳ.

Trong tháng 7/2026, xuất khẩu tấm/lá và dải đồng của Trung Quốc giảm nhẹ so với tháng trước nhưng vẫn duy trì mức tăng trưởng hai chữ số cao so với cùng kỳ, cho thấy thị trường xuất khẩu nhìn chung tiếp tục hoạt động mạnh. Cụ thể, trong tháng 7, Việt Nam, Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) vẫn là ba điểm đến xuất khẩu hàng đầu của tấm/lá và dải đồng Trung Quốc, chiếm 38% tổng lượng xuất khẩu, trở thành các thị trường cốt lõi. Tốc độ tăng trưởng giữa các phân khúc chênh lệch đáng kể: Ai Cập, Đức và Việt Nam lần lượt tăng vọt 171,1%, 130,5% và 118,7% so với cùng kỳ, cho thấy đơn hàng xuất khẩu được giải phóng mạnh. Đài Loan (Trung Quốc) và Malaysia cũng ghi nhận tăng trưởng cao, lần lượt tăng 59,2% và 74,9% so với cùng kỳ. Hàn Quốc, thị trường xuất khẩu chủ lực truyền thống, duy trì tăng trưởng ổn định, tăng 11,8% so với cùng kỳ. Các thị trường trưởng thành như Mỹ, Nhật Bản và Thái Lan có nhu cầu ổn định, với xuất khẩu sang các thị trường này đều tăng. Một số thị trường cho thấy nhu cầu suy yếu, trong đó Ấn Độ giảm mạnh nhất, giảm 26,8% so với cùng kỳ. Xuất khẩu sang các quốc gia và khu vực khác giảm nhẹ 4,3% so với cùng kỳ. Nhìn chung, nhu cầu giữa các khu vực ngoài Trung Quốc phân hóa rõ rệt; các thị trường mới nổi đóng góp đáng kể vào tăng trưởng và các thị trường ngoài Trung Quốc thể hiện khả năng chống chịu đủ tốt.

Xét theo cơ cấu phương thức thương mại xuất khẩu, cơ cấu thương mại của Trung Quốc đối với xuất khẩu tấm/lá và dải đồng về cơ bản duy trì mô hình ban đầu. Theo thống kê hải quan, trong tháng 7/2026, gia công thương mại với nguyên liệu nhập khẩu vẫn là kênh xuất khẩu chủ đạo của tấm/lá và dải đồng, đạt 8.494 tấn, chiếm 63,8% tổng xuất khẩu; gia công lắp ráp đứng thứ hai, đạt 2.697 tấn trong tháng, chiếm 20,3%; xuất khẩu theo thương mại thông thường đạt 1.204 tấn, chiếm 9,0%; các loại hình thương mại khác đạt 912 tấn, chiếm 6,9%. Tổng cộng, hai nhóm gia công thương mại—gia công với nguyên liệu nhập khẩu và gia công với nguyên liệu do bên đặt hàng cung cấp—chiếm hơn 80% tỷ trọng xuất khẩu và vẫn là cấu phần cốt lõi của xuất khẩu tấm/lá và dải đồng

Theo chủng loại sản phẩm, trong tháng 7/2026, xuất khẩu của tất cả các phân khúc tấm/lá và dải đồng đều cải thiện so với cùng kỳ năm trước, nhưng xu hướng so với tháng trước có sự phân hóa rõ rệt. Dải đồng vẫn chiếm tỷ trọng xuất khẩu lớn nhất, với 8.972 tấn được xuất khẩu trong tháng, chiếm 67% tổng xuất khẩu, tăng 25,4% YoY, nhưng giảm 4,0% MoM. Đối với dải đồng thau, nhu cầu từ bên ngoài nổi bật, với xuất khẩu đạt 2.183 tấn, chiếm 16% thị phần, tăng vọt 39,5% YoY và nhích nhẹ 0,9% MoM. Dải đồng thanh và dải đồng-niken đều đạt mức tăng trưởng hai chữ số so với cùng kỳ và so với tháng trước. Nhìn chung, tất cả các chủng loại chính đều duy trì tăng trưởng dương YoY. Dải đồng vẫn là trụ cột chính cho xuất khẩu, mặc dù có giảm nhẹ so với tháng trước. Dải đồng thau, đồng thanh và đồng-niken nhìn chung phục hồi theo tháng, và các đơn hàng xuất khẩu cho thấy sức chịu đựng tương đối tốt hơn.

(Mã HS 74091110, 74091190, 74091900, 74092100, 74092900, 74093100, 74093900, 74094000, 74099000)



