[Biên bản họp sáng Niken SMM] Ngân hàng Trung ương công bố dữ liệu tổng tài trợ xã hội và M2 trong 7 tháng đầu năm 2026; hợp đồng niken SHFE giao dịch nhiều nhất tăng trong phiên đầu và sau đó duy trì ở mức cao

Đã xuất bản: Aug 18, 2026 09:24
[Biên bản họp sáng 18/8] Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc công bố dữ liệu tài chính tháng 7/2026. Tổng mức tăng lũy kế của tổng tài trợ cho nền kinh tế thực trong 7 tháng đầu năm 2026 đạt 22,25 nghìn tỷ NDT, giảm 174 tỷ NDT so với cùng kỳ năm ngoái. Tính đến cuối tháng 7, lượng tiền rộng (M2) lưu hành đạt 355,51 nghìn tỷ NDT, tăng 7,7% so với cùng kỳ. Hợp đồng niken SHFE giao dịch nhiều nhất (2609) tăng mạnh đầu phiên rồi dao động ở vùng cao, chốt phiên sáng tại 128.850 NDT/tấn, tăng 1,0%. Nhờ các yếu tố như PPI tháng 7 của Mỹ hạ nhiệt nhẹ và kỳ vọng tăng lãi suất tiếp tục giảm, nhóm kim loại cơ bản nhìn chung đi lên, giá niken phục hồi từ mức đáy của tuần trước. Thị trường kỳ vọng hạn ngạch RKAB đối với quặng niken Indonesia sẽ được nới lỏng, nhưng giá lưu huỳnh vẫn duy trì cao trên 1.000 USD/tấn, qua đó giữ vững hỗ trợ chi phí. Trong ngắn hạn, biên độ giao dịch của hợp đồng niken SHFE giao dịch nhiều nhất là 125.000–130.000 NDT/tấn

Biên bản họp sáng 8.18

Chủ đề nóng của thị trường:

Bộ Năng lượng và Tài nguyên Khoáng sản Indonesia (ESDM) đã chính thức công bố giá chuẩn quặng nickel (HMA) cho nửa cuối tháng 8/2026. HMA nửa cuối tháng 8 gồm: giá nickel 16.960 USD/tấn (so với 16.646 USD/tấn trong nửa đầu tháng 8/2026), tăng 314 USD, tăng 1,89%; giá cobalt 55.869 USD/tấn; giá quặng sắt 1,41 USD/tấn; và giá quặng crôm 6,37 USD/tấn. Dựa trên mô hình ước tính nội bộ của SMM, đã tiến hành tính toán mô phỏng cho quặng saprolite (Fe 20%, Cr 1%, Co 0,05%) và quặng limonite (Fe 45%, Cr 2%, Co 0,10%). Biến động giá chuẩn HPM của quặng nickel theo các cấp hàm lượng như sau:

Ni 1,2%: 46,12 USD/wmt (tăng 0,64 USD)

Ni 1,3%: 50,42 USD/wmt (tăng 0,72 USD)

Ni 1,4%: 54,57 USD/wmt (tăng 0,68 USD)

Ni 1,5%: 59,31 USD/wmt (tăng 0,77 USD)

Ni 1,6%: 64,28 USD/wmt (tăng 0,86 USD)
 

Vĩ mô:

(1) Cục Quản lý Ngoại hối Nhà nước công bố rằng trong quý II/2026, Trung Quốc ghi nhận thặng dư tài khoản vãng lai 1.333,7 tỷ NDT, bao gồm thặng dư thương mại hàng hóa 1.906,5 tỷ NDT, thâm hụt thương mại dịch vụ 358,4 tỷ NDT, thâm hụt thu nhập sơ cấp 257,2 tỷ NDT và thặng dư thu nhập thứ cấp 42,8 tỷ NDT. Trong nửa đầu năm 2026, Trung Quốc ghi nhận thặng dư tài khoản vãng lai 2.617,4 tỷ NDT.

(2) Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc công bố dữ liệu tài chính tháng 7/2026. Trong 7 tháng đầu năm 2026, mức tăng lũy kế của tổng tài trợ cho nền kinh tế thực đạt 2,225 nghìn tỷ NDT, thấp hơn 174 triệu NDT so với cùng kỳ năm trước. Tính đến cuối tháng 7, dư nợ cung tiền rộng (M2) đạt 35,551 nghìn tỷ NDT, tăng 7,7% so với cùng kỳ.

Thị trường giao ngay:

Ngày 17/8, giá bình quân SMM của nickel tinh luyện #1 là 129.600 NDT/tấn, tăng 1.800 NDT/tấn so với ngày giao dịch trước. Về chênh lệch giá giao ngay, mức bình quân của nickel tinh luyện #1 Jinchuan là 1.400 NDT/tấn, không đổi so với ngày giao dịch trước, trong khi biên độ của các thương hiệu nickel điện phân nội địa chủ đạo là -100–500 NDT/tấn.

Thị trường kỳ hạn:

Hợp đồng nickel SHFE 2609 được giao dịch nhiều nhất tăng mạnh đầu phiên rồi duy trì ở mức cao, chốt phiên sáng tại 128.850 NDT/tấn, tăng 1,0%.

Được thúc đẩy bởi các yếu tố như PPI tháng 7 của Mỹ hạ nhiệt nhẹ và kỳ vọng tăng lãi suất tiếp tục giảm, kim loại cơ bản đồng loạt tăng, giá nickel phục hồi từ đáy tuần trước. Kỳ vọng về hạn ngạch RKAB quặng nickel của Indonesia khá nới lỏng, nhưng giá lưu huỳnh vẫn duy trì cao trên 1.000 USD/tấn, giúp hỗ trợ chi phí còn nguyên. Trong ngắn hạn, hợp đồng nickel SHFE được giao dịch nhiều nhất dự kiến dao động trong vùng 125.000–130.000 NDT/tấn.

Nickel sulphate

Ngày 17/8, giá bình quân nickel sulphate cấp pin của SMM đi ngang.

Về chi phí, tâm lý vĩ mô phục hồi thúc đẩy kim loại cơ bản tăng diện rộng, chi phí sản xuất giao ngay của nickel sulphate nhích lên; về cung, do chi phí vẫn cao, một số nhà sản xuất sẵn sàng giữ giá, trong khi một số khác có tồn kho tương đối cao tìm cách bán ra để giảm tồn; về cầu, gần đây một số doanh nghiệp hạ nguồn chủ yếu dựa vào nguồn cung theo hợp đồng dài hạn, tâm lý tích trữ qua đơn giao ngay yếu và mức chấp nhận giá muối nickel tương đối thấp. Hôm nay, hệ số tâm lý sẵn sàng bán của các nhà luyện muối nickel thượng nguồn là 2, hệ số tâm lý sẵn sàng mua của các nhà máy tiền chất hạ nguồn là 2,3 và hệ số tâm lý của các doanh nghiệp tích hợp là 2,3 (dữ liệu lịch sử có trong cơ sở dữ liệu).

Nhìn về phía trước, hoạt động thị trường đơn giao ngay yếu trong ngắn hạn và giá nickel sulphate nhìn chung chịu áp lực.

NPI

Ngày 17/8, SMM cho biết hệ số tâm lý thị trường đối với NPI cao cấp là 1,91, giảm 0,02 so với tháng trước; hệ số tâm lý thượng nguồn của NPI cao cấp là 2,06, đi ngang so với tháng trước; và hệ số tâm lý hạ nguồn của NPI cao cấp là 1,76, giảm 0,04 so với tháng trước. Giao dịch trên thị trường giao ngay NPI cao cấp tiếp tục hạ nhiệt, tổng thể thị trường hết sức trầm lắng. Mức sẵn sàng mua của hạ nguồn ì ạch, thương nhân khó bán, chào giá cố định tiếp tục giảm, và giao dịch ngày càng tập trung vào mô hình giá bình quân. Tâm lý thị trường yếu, nhiều bên tham gia chọn đứng ngoài trong xu hướng giảm, từ bỏ báo giá ra ngoài. Các nhà máy thép hạ nguồn thể hiện nhu cầu mua yếu, một số doanh nghiệp trực tiếp tạm dừng mua sắm liên quan, và sự quan tâm mua trên thị trường suy giảm rõ rệt. Dù một số nhà cung cấp vẫn giữ ý định ở mức giá cao, mức chấp nhận của hạ nguồn hạn chế. Thị trường nhìn chung cho rằng xu hướng vẫn cần thời gian để thể hiện đầy đủ; trong ngắn hạn thiếu động lực tăng và giá chịu áp lực.

Thép không gỉ

Theo SMM ngày 17/8, hợp đồng tương lai SS ngừng giảm và bật tăng. Dù phiên đêm thứ Sáu vẫn yếu, mở cửa thứ Hai được hỗ trợ bởi kim loại cơ bản mạnh lên diện rộng, SS đã đảo chiều giảm và bắt đầu tăng. Đến khi đóng cửa, hợp đồng SS được giao dịch nhiều nhất chốt ở 14.275 NDT/tấn. Trên thị trường giao ngay, dù SS kỳ hạn đã hồi phục, mô hình giao dịch yếu của thị trường giao ngay thép không gỉ buổi sáng không cải thiện, và báo giá của thương nhân tiếp tục hạ. Chỉ khi kỳ hạn dần hồi phục thì giao dịch giao ngay mới phục hồi phần nào.

Hợp đồng tương lai SS được giao dịch nhiều nhất. Lúc 10:15, SS2610 được báo giá 14.220 NDT/tấn, giảm 25 NDT/tấn so với ngày giao dịch trước. Tại Vô Tích, chênh lệch giá giao ngay cho 304/2B trong khoảng 400–650 NDT/tấn. Trên thị trường giao ngay, giá bình quân cuộn cán nguội 201/2B tại Vô Tích đi ngang; đối với cuộn cán nguội 304/2B mép chưa xén, giá bình quân tại Vô Tích giảm 125 NDT/tấn và tại Phật Sơn giảm 125 NDT/tấn; giá cuộn cán nguội 316L/2B tại Vô Tích không đổi; đối với cuộn cán nóng 316L/NO.1, báo giá tại Vô Tích không đổi; cuộn cán nguội 430/2B tại cả Vô Tích và Phật Sơn không đổi.

Tuần này, hợp đồng tương lai thép không gỉ liên tục bị nhiễu bởi tâm lý vĩ mô và nhìn chung duy trì xu hướng điều chỉnh giảm yếu. Trong tuần, thông tin về phê duyệt RKAB quặng nickel của Indonesia nhiều lần làm xáo trộn kỳ vọng của ngành; cùng với lập trường chính sách tương đối “diều hâu” của Fed và xung đột địa chính trị Mỹ–Iran chưa được giải quyết, mức độ bất định vĩ mô trên thị trường vẫn cao. Nhiều yếu tố tiêu cực cộng hưởng, kéo SS kỳ hạn tiếp tục điều chỉnh giảm trong tuần. Nhìn chung, tâm lý bi quan chi phối thị trường và trọng tâm giao dịch kỳ hạn dịch chuyển đều xuống thấp. Thị trường giao ngay cho thấy liên kết giao ngay–kỳ hạn yếu hơn, cung cầu yếu nhưng khả năng chống chịu tồn kho ngày càng rõ, giá nhìn chung giảm và điều chỉnh xuống. Thị trường vẫn đang trong giai đoạn trái mùa tiêu thụ truyền thống, và các dấu hiệu phục hồi trước mùa cao điểm tháng 9–10 vẫn chưa xuất hiện. Tâm lý mua hàng của khâu tiêu thụ cuối nguồn vẫn thận trọng, giao dịch chủ yếu dựa trên nhu cầu mua theo tiến độ sản xuất (just-in-time), không có hoạt động bổ sung tồn kho tập trung. Tính liên tục của nhu cầu just-in-time tương đối yếu, khiến khó tạo lực đỡ tăng cho giá giao ngay. Về phía cung, kế hoạch sản xuất tháng 8 của các nhà máy thép không gỉ tăng đều, tốc độ giải phóng công suất được đẩy nhanh. Trong bối cảnh nhu cầu tiêu thụ cuối không phục hồi đồng nhịp, áp lực cung–cầu trên thị trường gia tăng ở biên. Tuy nhiên trong tuần, bão “White Dolphin” tác động trực tiếp đến khu vực Hoa Đông, cản trở vận chuyển tại các cảng trọng điểm và logistics đường bộ. Tiến độ giao hàng và hàng về bị hạn chế, tạm thời bù đắp áp lực từ tăng trưởng nguồn cung. Do đó, tồn kho xã hội thép không gỉ tuần này nhìn chung ổn định, không có dấu hiệu tích lũy tồn kho rõ rệt. Cơ cấu tồn kho hợp lý tạo lực đỡ đáy cho giá giao ngay. Về chi phí và lợi nhuận, giá thành phẩm tuần này điều chỉnh giảm cùng với giá kỳ hạn, và nỗ lực giữ giá của các nhà máy thép phần nào suy yếu, kéo báo giá giao ngay đi xuống. Tuy nhiên, độ vững của phía nguyên liệu đủ mạnh, qua đó hạn chế hiệu quả đà giảm giá. Trong tuần, giá NPI tương đối vững, hỗ trợ mạnh cho chi phí sản xuất thép không gỉ. Đồng thời, mức điều chỉnh giảm nhẹ của giá thành phẩm khiến chênh lệch giá giữa thành phẩm và nguyên liệu thu hẹp, lợi nhuận luyện của các nhà máy thép giảm đáng kể. Nhìn chung, lực đỡ cứng từ chi phí nổi bật, ngăn giá giao ngay giảm sâu, và thị trường thể hiện đặc trưng vận hành “kỳ hạn giảm, giao ngay yếu, chi phí nâng đỡ, dư địa giảm hạn chế”. Tổng thể, tuần này thị trường thép không gỉ thể hiện trạng thái giằng co: yếu tố vĩ mô bất lợi kéo giá kỳ hạn, nhu cầu just-in-time trái mùa yếu, tăng cung làm áp lực gia tăng, tồn kho ổn định tạo hỗ trợ, và chi phí vững chống đỡ đà giảm. Trong ngắn hạn, nền tảng cơ bản yếu là rõ ràng. Việc các nhà máy thép tăng sản lượng dần sẽ tiếp tục khuếch đại áp lực phía cầu trong thời gian tới, giá đối mặt rủi ro điều chỉnh theo giai đoạn; tuy nhiên, mức tồn kho hợp lý và chi phí nguyên liệu vững tạo hỗ trợ kép, hạn chế dư địa giảm, và thị trường dự kiến đi ngang tích lũy trong trạng thái trầm lắng. Các điểm cần theo dõi tiếp theo gồm: thay đổi trong tâm lý vĩ mô, nhịp biến động của hợp đồng kỳ hạn SS, tiến độ phục hồi nhu cầu just-in-time trong giai đoạn trái mùa của người dùng cuối, việc triển khai tăng sản lượng của nhà máy thép, và biến động vòng quay tồn kho.

Quặng niken:

Thị trường Philippines:

Về giá, giá quặng niken tại Philippines tuần này nhìn chung ổn định. Chào giá CIF Trung Quốc phổ biến là 46 USD/wmt cho Ni 1,3%, 56,5 USD/wmt cho Ni 1,4% và 64,5 USD/wmt cho Ni 1,5%, đều đi ngang so với tuần trước.

Cước vận tải trên các tuyến chính cũng không đổi: Surigao–Liên Vân Cảng 14,50 USD/wmt, Surigao–Ningde 13,50 USD/wmt, Zambales–Liên Vân Cảng 12,75 USD/wmt và Zambales–Ningde 12,25 USD/wmt. Các nhà luyện kim hạ nguồn tại Trung Quốc duy trì tồn kho tương đối dồi dào, nhu cầu bổ sung tồn kho hạn chế, và mua hàng vẫn thận trọng.

Về thời tiết, một số khu vực khai thác quặng niken tại Philippines bị ảnh hưởng bởi bão và thời tiết bất lợi liên quan trong tuần này, gây gián đoạn sản xuất tại một số mỏ, vận chuyển nội địa và bốc xếp tại cảng. Tác động tổng thể lên Palawan và đảo Homonhon tương đối hạn chế, nhưng mưa gián đoạn và điều kiện biển xấu đi xuất hiện ở một số nơi, khiến lịch tàu và tiến độ bốc xếp bị chậm. Zambales chịu ảnh hưởng rõ hơn bởi mưa lớn và gió mạnh, một số hoạt động cảng và vận chuyển quặng bị gián đoạn cục bộ. Nhìn chung, bão chủ yếu ảnh hưởng đến một số cảng và lô hàng, không gây gián đoạn diện rộng đối với nguồn cung quặng niken Philippines.

Về cung–cầu và tâm lý thị trường, thị trường quặng niken Philippines tiếp tục thể hiện mô hình cung tương đối nới lỏng và cầu yếu. Dù bão gây gián đoạn tạm thời tại cảng và vận chuyển ở một số khu vực, sản lượng mỏ và xuất khẩu nhìn chung vẫn ổn định, nguồn cung giao ngay vẫn khá dồi dào. Việc chậm tàu cục bộ có thể làm thắt chặt một phần nguồn cung giao ngay trong ngắn hạn, nhưng chưa đủ để thay đổi cấu trúc thị trường tổng thể là cung tương đối dư.

Các nhà luyện kim hạ nguồn tại Trung Quốc có tồn kho tương đối dồi dào, mua hàng chủ yếu phục vụ nhu cầu sản xuất just-in-time, giao dịch nhìn chung trầm lắng. Được hỗ trợ bởi cước vận tải và chi phí sản xuất, các mỏ Philippines giữ chào giá tương đối cứng và không muốn giảm giá đáng kể; tuy nhiên, trong bối cảnh cung tương đối dư và nhu cầu phục hồi hạn chế, áp lực giảm đối với quặng niken cấp thấp tăng dần. Ngược lại, giá quặng cấp cao tương đối vững, chủ yếu được hỗ trợ bởi nhu cầu mua ổn định từ các nhà luyện NPI và cân bằng cung–cầu tương đối chặt đối với nguyên liệu NPI cấp cao.

Nhìn về tuần tới, khi tác động của bão dần suy yếu, sản xuất mỏ và bốc xếp cảng tại Philippines dự kiến từng bước trở lại bình thường, dù một số cảng vẫn có thể điều chỉnh lịch. Nguồn cung thị trường nhìn chung được kỳ vọng vẫn tương đối nới lỏng, và hạ nguồn Trung Quốc nhiều khả năng vẫn tập trung mua just-in-time, nhu cầu cải thiện hạn chế. Trong bối cảnh cung tương đối dư và phục hồi nhu cầu chậm, giá quặng cấp thấp được dự báo tiếp tục chịu áp lực, trong khi giá quặng cấp cao tương đối bền. Trong ngắn hạn, tâm lý thị trường dự kiến vẫn thận trọng. Diễn biến giá quặng cấp thấp chủ yếu phụ thuộc vào nhịp bổ sung tồn kho của hạ nguồn Trung Quốc, mức độ phục hồi của các cảng Philippines và nguồn cung giao ngay tiếp theo.

Thị trường Indonesia:

Về định giá, tuần này là tuần cuối của chu kỳ định giá HMA cho nửa đầu tháng 8, với HMA ở mức 16.646 USD/tấn. Bị ảnh hưởng bởi đà giảm gần đây của HMA và HPM, giá quặng niken Indonesia nhìn chung yếu hơn; tuy nhiên, do nguồn cung thị trường dồi dào và tồn kho nhà luyện cao, giá giao dịch phổ biến thực tế cơ bản đi ngang so với tuần trước. Giá CIF cho limonite khoảng 29 USD/wmt cho Ni 1,2% và 31 USD/wmt cho Ni 1,3%; saprolite khoảng 52,6 USD/wmt cho Ni 1,4% và khoảng 60 USD/wmt cho Ni 1,5%. Giá giao dịch phổ biến của quặng niken cấp thấp khoảng 31 USD/wmt. Trong ngắn hạn, với nguồn cung dồi dào và mua hàng thận trọng, giá quặng được kỳ vọng duy trì ổn định, và thị trường tiếp tục theo dõi hạn ngạch bổ sung RKAB và tác động của chúng lên nguồn cung.

Về thời tiết, điều kiện thời tiết tổng thể tại các khu vực sản xuất niken chính của Indonesia ở mức có thể kiểm soát. Morowali và Konawe có mưa gián đoạn, nhưng không gây ảnh hưởng đáng kể đến khai thác, vận chuyển hay hoạt động cảng. Halmahera mưa nhiều hơn; mưa lớn cục bộ có thể gây gián đoạn theo giai đoạn đối với khai thác và logistics, nhưng không có gián đoạn nguồn cung trên diện rộng. Đảo Obi cũng có mưa gián đoạn, và hoạt động khai thác, bốc xếp nhìn chung vẫn bình thường. Tổng thể, thời tiết tuần này tác động hạn chế đến nguồn cung và logistics quặng niken Indonesia.

Về cung–cầu và tâm lý thị trường, nguồn cung trên thị trường quặng niken Indonesia vẫn tương đối dồi dào. Tồn kho saprolite tiếp tục nhích lên, trong khi tồn kho limonite giảm nhẹ do một số dự án HPAL dần nâng công suất. Hiện tại, tồn kho tại đa số nhà luyện vẫn đủ dùng khoảng hai tháng, làm giảm nhu cầu mua thêm trên thị trường giao ngay.

Về chính sách và RKAB, tuần này thị trường quặng niken Indonesia tiếp tục tập trung vào hạn ngạch RKAB bổ sung cho năm 2026. ESDM tiếp tục nhấn mạnh rằng điều chỉnh RKAB cần được đánh giá dựa trên sản lượng thực tế, nhu cầu công nghiệp hạ nguồn, điều kiện thị trường và cân bằng cung–cầu tổng thể, thay vì tự động nới lỏng hạn ngạch.

Hiệp hội Thợ mỏ Niken Indonesia (APNI) đề xuất bổ sung hạn ngạch đệm chiến lược 30 triệu tấn bên cạnh RKAB hiện có khoảng 270 triệu tấn, đưa tổng tiềm năng lên khoảng 300 triệu tấn. APNI cho biết khi công suất luyện của Indonesia tiếp tục mở rộng, lượng quặng niken cần thiết để khoảng 80 nhà máy luyện vận hành đủ công suất có thể đạt khoảng 315 triệu tấn/năm, do đó cần thêm dư địa đệm.

Trong khi đó, RKAB bổ sung của Weda Bay Nickel (WBN) cũng trở thành một trọng tâm khác trong tuần này. Nguồn tin thị trường trước đó cho biết WBN có thể nhận thêm hạn ngạch khoảng 25 triệu tấn, nhưng ESDM chưa chính thức xác nhận hạn ngạch bổ sung này, vì vậy ở giai đoạn hiện tại không nên tính vào nguồn cung đã được phê duyệt. Các điều chỉnh RKAB tiếp theo đối với WBN sẽ vẫn là biến số then chốt ảnh hưởng đến nguồn cung quặng limonite của Indonesia và tâm lý thị trường.

Nhìn chung, chính sách của chính phủ tiếp tục tập trung cân bằng nhu cầu nguyên liệu hạ nguồn với kiểm soát tài nguyên khoáng sản. Việc đề xuất hạn ngạch đệm 30 triệu tấn của APNI và hạn ngạch bổ sung của WBN có được phê duyệt cuối cùng hay không sẽ tác động trực tiếp đến kỳ vọng nguồn cung quặng niken trong nửa cuối năm.

Nhìn về tuần tới, giá quặng niken Indonesia được kỳ vọng đi ngang trong trạng thái trầm lắng. Nguồn cung dồi dào, tồn kho nhà luyện tương đối cao và mua hàng thận trọng sẽ tiếp tục hạn chế dư địa tăng. Thị trường sẽ tiếp tục theo dõi các phê duyệt RKAB mới và kế hoạch hạn ngạch đệm chiến lược 30 triệu tấn do APNI đề xuất. Nếu một lượng lớn hạn ngạch mới được phê duyệt, nguồn cung tăng có thể tiếp tục gây áp lực giảm lên giá quặng; nếu tiến độ phê duyệt chậm hoặc lượng hạn ngạch giải phóng hạn chế, giá quặng limonite cấp cao có thể nhận được một số hỗ trợ. Trong ngắn hạn, thị trường được kỳ vọng chủ yếu đứng ngoài quan sát.

Tuyên bố về Nguồn Dữ liệu: Ngoại trừ thông tin công khai, tất cả dữ liệu khác được SMM xử lý dựa trên thông tin công khai, giao tiếp thị trường và dựa trên mô hình cơ sở dữ liệu nội bộ của SMM. Chúng chỉ mang tính chất tham khảo và không cấu thành khuyến nghị ra quyết định.

Hình ảnh trong bài viết này có chú thích được AI dịch, chỉ để tham khảo.

Để biết thêm thông tin hoặc có thắc mắc gì, vui lòng liên hệ: lemonzhao@smm.cn
Để biết thêm thông tin về cách truy cập báo cáo nghiên cứu, vui lòng liên hệ:service.en@smm.cn
Tin Liên Quan
Chào bán NPI khan hiếm, chênh lệch giá thu hẹp trong bối cảnh bất đồng giữa thượng nguồn và hạ nguồn
39 phút trước
Chào bán NPI khan hiếm, chênh lệch giá thu hẹp trong bối cảnh bất đồng giữa thượng nguồn và hạ nguồn
Đọc thêm
Chào bán NPI khan hiếm, chênh lệch giá thu hẹp trong bối cảnh bất đồng giữa thượng nguồn và hạ nguồn
Chào bán NPI khan hiếm, chênh lệch giá thu hẹp trong bối cảnh bất đồng giữa thượng nguồn và hạ nguồn
【Bản tin nhanh Niken SMM】Ngày 18 tháng 8 — Các chào giá cố định đối với NPI khá khan hiếm. Hầu hết giao dịch được đàm phán dựa trên giá trung bình giao ngay, và chênh lệch giá giữa nguyên liệu hàm lượng niken cao và hàm lượng niken thấp đã thu hẹp. Bên nắm giữ hàng không muốn bán với giá thấp. Giữa các bên thượng nguồn và hạ nguồn tồn tại bất đồng rõ rệt về giá. Các giao dịch thực tế chủ yếu là giao dịch nhỏ lẻ, rời rạc, còn giao dịch khối lượng lớn vẫn khó thành hiện thực.
39 phút trước
SMM: Tâm lý đối với NPI cao cấp sụt giảm, hoạt động thị trường giao ngay trầm lắng trong tháng 8
41 phút trước
SMM: Tâm lý đối với NPI cao cấp sụt giảm, hoạt động thị trường giao ngay trầm lắng trong tháng 8
Đọc thêm
SMM: Tâm lý đối với NPI cao cấp sụt giảm, hoạt động thị trường giao ngay trầm lắng trong tháng 8
SMM: Tâm lý đối với NPI cao cấp sụt giảm, hoạt động thị trường giao ngay trầm lắng trong tháng 8
[Tin nhanh Niken SMM] Ngày 18 tháng 8, chỉ số tâm lý thị trường SMM đối với NPI hàm lượng cao đạt 1,88, giảm 0,03 so với tháng trước; chỉ số tâm lý thượng nguồn đối với NPI hàm lượng cao đạt 2, giảm 0,06 so với tháng trước; chỉ số tâm lý hạ nguồn đối với NPI hàm lượng cao đạt 1,76, không đổi so với tháng trước. Hoạt động giao dịch trên thị trường giao ngay NPI hàm lượng cao vẫn yếu.
41 phút trước
Dữ liệu: Diễn biến thị trường SHFE, DCE (18/8)
2 giờ trước
Dữ liệu: Diễn biến thị trường SHFE, DCE (18/8)
Đọc thêm
Dữ liệu: Diễn biến thị trường SHFE, DCE (18/8)
Dữ liệu: Diễn biến thị trường SHFE, DCE (18/8)
Bảng dưới đây cho thấy diễn biến kim loại đen và kim loại màu trên SHFE và DCE vào ngày 18/08/2026.
2 giờ trước
Đăng ký để Tiếp tục Đọc
Tiếp cận những phân tích mới nhất về kim loại và năng lượng mới
Đã có tài khoản?đăng nhập tại đây
[Biên bản họp sáng Niken SMM] Ngân hàng Trung ương công bố dữ liệu tổng tài trợ xã hội và M2 trong 7 tháng đầu năm 2026; hợp đồng niken SHFE giao dịch nhiều nhất tăng trong phiên đầu và sau đó duy trì ở mức cao - Shanghai Metals Market (SMM)