Tin tức ngày 13/8:
Quặng đất hiếm:
Gần đây, giao dịch quặng đất hiếm nhìn chung vẫn trì trệ, tỷ lệ vận hành tại các nhà máy phân tách vẫn ở mức thấp, nhu cầu mua vào tương đối yếu và giá quặng đất hiếm tiếp tục giảm nhẹ. Tính đến hôm nay, giá cacbonat đất hiếm ở mức 58.500-58.700 NDT/tấn; giá monazit tuần này giảm nhẹ xuống 41.000-45.000 NDT/tấn; giá quặng ytri trung bình, giàu europi ở khoảng 243.000-245.000 NDT/tấn.
Oxit đất hiếm:
Đối với đất hiếm nhẹ, giá oxit lantan không có biến động trong tuần này, ổn định ở mức 5.200-5.800 NDT/tấn. Giá thị trường oxit xeri cũng không có biến động đáng kể, duy trì ổn định trong khoảng 14.300-14.700 NDT/tấn trong tuần này. Tuần này, giá oxit Pr-Nd tiếp tục ảm đạm. Chịu ảnh hưởng từ biến động giá kỳ hạn, nhu cầu mua từ hạ nguồn vẫn yếu, giao dịch trên thị trường oxit Pr-Nd vẫn trì trệ, một số thương nhân tiếp tục bán giá thấp và tâm lý bi quan lan rộng. Tính đến hôm nay, giá oxit Pr-Nd giảm thêm xuống 713.000-717.000 NDT/tấn.
Đối với đất hiếm trung nặng, thị trường oxit dysprosi ghi nhận hoạt động hỏi mua từ hạ nguồn trầm lắng, nhưng hầu hết người tham gia thị trường vẫn lạc quan về triển vọng thị trường đất hiếm trung nặng và giá chào bán vẫn giữ vững. Tuần này, giá oxit dysprosi tạm ổn định ở mức 1,38-1,4 triệu NDT/tấn. Đối với oxit terbi, một số nhà cung cấp bán lượng nhỏ với giá thấp, nhưng các nhà máy kim loại vẫn chịu thua lỗ nghiêm trọng về chi phí nguyên liệu, khiến khó giao dịch ở mức giá cao. Tính đến hôm nay, giá thị trường oxit terbi giảm nhẹ xuống 6,63-6,65 triệu NDT/tấn. Các nhà cung cấp oxit gadolini ít muốn tiếp tục bán với giá thấp hơn, nhưng các nhà máy kim loại hạ nguồn vẫn ép giá mạnh khi hỏi mua, và một số nhà cung cấp bán lượng nhỏ với giá thấp. Giá giao dịch thực tế của oxit gadolini giảm nhẹ xuống 195.000-197.000 NDT/tấn. Hoạt động giao dịch oxit holmi tương đối trầm lắng, nhà cung cấp giữ giá chào bán cứng và giá điều chỉnh nhẹ xuống 592.000-595.000 NDT/tấn trong tuần này. Các nhà cung cấp oxit erbi duy trì chào giá tương đối cứng, nhưng giao dịch thực tế vẫn yếu. Tuần này, chào giá oxit erbi được điều chỉnh nhẹ về 615.000-625.000 NDT/tấn. Thị trường oxit ytri gần đây tương đối ổn định, giao dịch thực tế không thay đổi. Tuần này, giá oxit ytri 5N ổn định ở mức 60.000-63.000 NDT/tấn, trong khi giá oxit ytri 3N được nâng lên 26.000-30.000 NDT/tấn do nhu cầu tăng trên thị trường sợi thủy tinh.
Kim loại đất hiếm:
Đối với đất hiếm nhẹ, giá kim loại xeri tuần này không biến động đáng kể, một số nhà cung cấp giữ chào giá ổn định ở 29.000-30.000 NDT/tấn. Giá hợp kim Pr-Nd tuần này tiếp tục ảm đạm. Do lượng hỏi hàng hạ nguồn không tăng đáng kể và giá nguyên liệu tiếp tục giảm, các nhà sản xuất kim loại tiếp tục hạ chào giá, giao dịch thị trường vẫn yếu, các doanh nghiệp vật liệu từ tính hạ nguồn giữ tâm lý chờ đợi mạnh mẽ, và cuộc giằng co giữa thượng nguồn và hạ nguồn rất gay gắt. Tính đến hôm nay, chào giá của nhà cung cấp được điều chỉnh về 870.000-875.000 NDT/tấn.
Đối với đất hiếm trung nặng, hợp kim dysprosi-sắt tuần này chốt ở mức 1,34-1,35 triệu NDT/tấn, giá tiếp tục ảm đạm, chủ yếu do hoạt động hỏi hàng trên thị trường liên tục ảm đạm. Một số nhà cung cấp hạ báo giá, nhưng giao dịch tổng thể vẫn yếu. Giá kim loại terbi tuần này giảm về 8,2-8,25 triệu NDT/tấn. Do tâm lý giao dịch thị trường vẫn ảm đạm và giá oxit giảm, các nhà sản xuất kim loại hạ báo giá tương ứng, và giao dịch thực tế hạn chế. Giá hợp kim gadolini-sắt tuần này ảm đạm. Lượng hỏi hàng tổng thể trên thị trường không cải thiện, cùng với giá nguyên liệu giảm, các nhà cung cấp hạ báo giá xuống 188.000-190.000 NDT/tấn, khiến giao dịch thực tế khó khăn. Giá hợp kim holmi-sắt tuần này ổn định. Dù hoạt động hỏi hàng trên thị trường hạn chế, báo giá của nhà cung cấp vẫn tương đối cứng, giữ ở mức 595.000-600.000 NDT/tấn, trong khi giao dịch thực tế vẫn ảm đạm.
Phôi NdFeB:
Hiện tại, phôi NdFeB N38 (Ce) chốt ở mức 209~219 NDT/kg; phôi NdFeB 40M chốt ở mức 255~265 NDT/kg; phôi NdFeB 40H chốt ở mức 259~269 NDT/kg; và phôi NdFeB 45SH (Ce) chốt ở mức 309~329 NDT/kg.
Về giá, giá NdFeB giảm trong tuần này, chủ yếu do giá nguyên liệu thô giảm, kéo giá chào NdFeB đi xuống. Về giao dịch, khối lượng giao dịch thị trường NdFeB phục hồi phần nào trong tuần này, chủ yếu nhờ bước sang tháng 8, các nhà máy động cơ hạ nguồn dần kết thúc kỳ nghỉ và công suất vận hành phục hồi, thúc đẩy đơn hàng NdFeB phục hồi. Kết hợp với việc giá NdFeB giảm gần đây, một số nhà máy động cơ đã bổ sung hàng để đáp ứng nhu cầu cứng; các yếu tố này cùng thúc đẩy đơn hàng phục hồi, và khối lượng giao dịch chung của thị trường phục hồi.
Phế liệu NdFeB:
Tuần này, giá Pr-Nd thu hồi từ phế liệu NdFeB chốt ở mức 730-735 nhân dân tệ/kg; giá dysprosi thu hồi từ phế liệu NdFeB chốt ở mức 1.230-1.250 nhân dân tệ/kg; và giá terbi thu hồi từ phế liệu NdFeB chốt ở mức 5.600-5.800 nhân dân tệ/kg.
Tuần này, giá thị trường phế liệu nhìn chung tiếp tục xu hướng giảm, chủ yếu chịu ảnh hưởng bởi sự suy yếu liên tục của giá tương lai và giá giao ngay oxit Pr-Nd. Các doanh nghiệp tái chế theo đó hạ báo giá thu mua bên ngoài, nhưng bên cung phế liệu ít sẵn sàng bán với giá thấp. Lượng phế liệu lưu thông đã bao thuế trên thị trường vẫn hạn chế, và cuộc giằng co giữa thượng nguồn và hạ nguồn vẫn trong thế bế tắc. Giữa tuần, oxit Pr-Nd vẫn ảm đạm. Các doanh nghiệp tái chế ít sẵn sàng mua với giá cao hơn. Giá phế liệu Pr-Nd tiếp tục giảm, và tình trạng bế tắc trong giao dịch thị trường tiếp diễn.
![Giá Pr-Nd tiếp tục yếu, giá đất hiếm nhóm trung-nặng duy trì tương đối ổn định [Nhận định đất hiếm hằng ngày SMM]](https://imgqn.smm.cn/usercenter/OJyAn20251217171745.jpeg)
![[Tóm tắt cuộc họp buổi sáng về đất hiếm của SMM] Xu hướng giảm giá tiếp diễn, oxit Pr-Nd vẫn yếu; kim loại giảm theo với giao dịch trì trệ; vật liệu từ phục hồi khi hoạt động sản xuất trở lại.](https://imgqn.smm.cn/usercenter/QLmfa20251217171745.jpg)

