Ngày 7 tháng 8, Chỉ số SMM Tinh quặng đồng Nhập khẩu (hàng tuần) được báo cáo ở mức -173,91 USD/dmt, giảm 14,54 USD/dmt so với mức -159,37 USD/dmt trước đó. Chỉ số thanh toán cho quặng thương mại nội địa hàm lượng 20% ở mức 98,5%-99,5%.
Tuần này, giao dịch thị trường giao ngay khá sôi động, nhưng giá giao dịch tiếp tục giảm. Trong giao dịch giao ngay, một thương nhân đã bán 30.000-50.000 tấn quặng hỗn hợp giao từ quý 4/2026 đến quý 1/2027 cho một nhà luyện kim với giá -170 USD/dmt, QP: M+1/M+5; một thương nhân khác bán 10.000 tấn quặng sạch với giá -183 USD/dmt cho một nhà luyện kim, giao hàng vào tháng 8/tháng 9, QP: M+1/M+5; một thương nhân bán 40.000-60.000 tấn quặng hỗn hợp giao quý 4 với giá từ -170 USD/dmt đến -175 USD/dmt cho một nhà luyện kim, QP: M+1/M+5; một thương nhân bán 20.000 tấn quặng hỗn hợp với giá từ -174 USD/dmt đến -175 USD/dmt và cũng bán 10.000 tấn quặng nhiễm asen cao với giá khoảng -100 USD/dmt cho các nhà luyện kim, giao quý 4, QP: M+1/M+4; một thương nhân bán 70.000 tấn quặng hỗn hợp cho các nhà luyện kim với giá chỉ số trừ 18 USD/dmt, giao quý 4; một thương nhân bán 10.000 tấn quặng hỗn hợp giao tháng 8/tháng 9 cho các nhà luyện kim với giá chỉ số trừ từ 22 USD/dmt đến 23 USD/dmt; một thương nhân chào bán 10.000 tấn quặng sạch Nam Mỹ với giá chỉ số trừ 20 USD/dmt. Trong các cuộc đấu thầu mỏ, về phía thương nhân, giá trúng thầu cho 10.000 tấn quặng BISHA, giao tháng 9-tháng 10, ở mức -240 USD/dmt đến -230 USD/dmt; kết quả trúng thầu cho Chuquicamata dưới -200 USD/dmt. Nhìn chung, giao dịch giá cố định tăng trên thị trường giao ngay trong tuần này. Do chậm trễ giao hàng liên quan đến thời tiết từ một số mỏ ở Chile và Peru, nhu cầu bổ sung hàng tồn kho tăng lên. Cùng với nhu cầu bổ sung hàng tồn kho cứng từ năng lực luyện kim mới, TC giao ngay tiếp tục xấu đi và biên lợi nhuận của nhà luyện kim tiếp tục thu hẹp. Tuy nhiên, nhà luyện kim hạn chế chấp nhận nguồn cung giá thấp. Áp lực giảm vẫn còn nhưng dư địa giảm hạn chế.
Theo các báo cáo truyền thông nước ngoài, chính phủ Cộng hòa Dân chủ Congo (DRC) đã ký sắc lệnh vào ngày 29 tháng 6 cấm xuất khẩu tinh quặng đồng và coban, có hiệu lực ngay lập tức. Trong điều kiện "chiến lược", Bộ trưởng Bộ Mỏ vẫn có thể cấp phép xuất khẩu miễn trừ trong thời hạn một năm. Cần lưu ý rằng CHDC Congo đã áp đặt các biện pháp kiểm soát chặt chẽ đối với xuất khẩu tinh quặng đồng và coban. Theo chính sách hiện hành, về nguyên tắc, xuất khẩu này bị cấm và doanh nghiệp phải xin hạn ngạch hoặc giấy miễn trừ được chính phủ phê duyệt trước khi vận chuyển. Do đó, chính sách này thiên về tái khẳng định và thắt chặt hơn nữa khuôn khổ quản lý hiện có, chứ không phải là lệnh dừng đột ngột hoàn toàn hoạt động xuất khẩu tinh quặng đồng. Tác động thêm từ lệnh cấm đối với thương mại tinh quặng đồng toàn cầu trong ngắn hạn có thể sẽ tương đối hạn chế. Điều đáng chú ý hơn là tín hiệu chính sách mà nó phát đi: Khi tầm quan trọng chiến lược của các khoáng sản thiết yếu ngày càng tăng, các quốc gia giàu tài nguyên đang sử dụng các biện pháp hạn chế xuất khẩu, yêu cầu chế biến trong nước và chính sách thuế để giành lấy phần lớn hơn trong chuỗi ngành và giá trị gia tăng tài nguyên tại quốc gia mình. Chủ nghĩa dân tộc tài nguyên đang ngày càng làm xáo trộn dòng chảy nguyên liệu đồng toàn cầu và cục diện nguồn cung.
Vào ngày 4 tháng 8, Codelco thông báo tạm dừng các hoạt động phát triển và xây dựng dự án Andes Norte tại mỏ El Teniente, do phát hiện nguy cơ địa chấn kiểu mới ở khu vực sâu của dự án. Biện pháp này chỉ áp dụng cho dự án Andes Norte và không có nghĩa là toàn bộ mỏ El Teniente ngừng hoạt động. Các khu vực sản xuất khác của mỏ vẫn tiếp tục vận hành, với hệ thống giám sát địa chấn và các biện pháp an toàn liên quan.
Theo dữ liệu mới nhất từ Hải quan Trung Quốc, nhập khẩu tinh quặng đồng của Trung Quốc trong tháng 7 năm 2026 đạt 2,379 triệu tấn, tăng 1,88% so với tháng trước và giảm 6,93% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2026, tổng nhập khẩu tinh quặng đồng đạt 16,985 triệu tấn, giảm 1,8% so với cùng kỳ năm trước.
Vào ngày 6 tháng 8 năm 2026, SMM ghi nhận tồn kho tinh quặng đồng tại 11 cảng là 692.000 tấn tính theo khối lượng thực, tăng 27.600 tấn so với ngày 31 tháng 7. Mức tăng chủ yếu đến từ cảng Phòng Thành và cảng Khâm Châu, lần lượt tăng 20.000 tấn và 29.000 tấn so với tháng trước; mức giảm chủ yếu đến từ cảng Yên Đài và cảng Thanh Đảo, lần lượt giảm 22.400 tấn và 20.000 tấn so với tháng trước.



