Vào ngày 4 tháng 8, giá cổ phiếu của JCHX giảm. Tính đến 10:38 sáng ngày 4 tháng 8, JCHX giảm 0,54% xuống 71,17 nhân dân tệ/cổ phiếu.

Về mặt tin tức, bản tóm tắt hoạt động quan hệ nhà đầu tư tháng 7 năm 2026 do JCHX công bố ngày 3 tháng 8 cho thấy:
1. Tiến độ Dự án Mỏ Đồng-Vàng-Bạc San Matias tại Colombia
Đánh giá tác động môi trường (EIA) cho Mỏ Đồng-Vàng-Bạc Alacran đã nhận được sự phê duyệt chính thức từ Cơ quan Cấp phép Môi trường Quốc gia Colombia (ANLA). Đến nay, quá trình đánh giá tác động kỹ thuật, môi trường và xã hội có sự tham gia của cộng đồng địa phương, chính quyền và các cơ quan kỹ thuật của chính phủ đã được hoàn tất một cách thỏa đáng. Trong quá trình phát triển và xây dựng tiếp theo của Mỏ Đồng-Vàng-Bạc Alacran, công ty sẽ thực hiện đầy đủ các yêu cầu bảo vệ kinh tế-xã hội của giấy phép môi trường, luôn tuân thủ các nguyên tắc cốt lõi về bảo vệ nhân quyền, phòng ngừa rủi ro và phúc lợi tập thể. Bằng cách thiết lập cơ chế giao tiếp và chia sẻ lâu dài, công ty sẽ đảm bảo hoạt động của dự án cùng tồn tại hài hòa với cộng đồng địa phương để cùng có lợi và đôi bên cùng thắng.
Theo nghiên cứu khả thi (FS) cho mỏ quặng Đồng-Vàng-Bạc Alacran được hoàn thành vào tháng 12 năm 2023 (áp dụng tiêu chuẩn NI 43-101), dự án mỏ Đồng-Vàng-Bạc Alacran là một dự án khai thác lộ thiên và chế biến, với tổng vốn đầu tư ước tính là 420,4 triệu USD và trữ lượng quặng thiết kế trong giới hạn mỏ là 97,9 triệu tấn. Thời gian xây dựng là 2 năm, và tuổi thọ mỏ dự kiến là 14,2 năm sau khi hoàn thành. Dự kiến, dự án sẽ thu hồi tổng cộng 797 triệu pound đồng, 550.000 ounce vàng và 5,35 triệu ounce bạc.
2. Chuyển đổi Công nghệ Dự án Mỏ Đồng Lubambe
Kể từ khi hoàn tất mua lại Mỏ Đồng Lubambe tại Zambia vào nửa cuối năm 2024, công ty đã liên tục củng cố hoạt động và quản lý, đồng thời thúc đẩy thăm dò địa chất, sản xuất khai thác, sản xuất tuyển quáng và cải tạo các hệ thống phụ trợ hầm lò. Khi kế hoạch chuyển đổi công nghệ từng bước được triển khai, hiệu quả hoạt động của Mỏ Đồng Lubambe sẽ không ngừng được cải thiện.
3. Trữ lượng Có thể Thu hồi Còn lại và Tính Mùa vụ của Mỏ Dikulushi
Công ty hiện nắm giữ hai quyền khai thác mỏ (PE606 và PE13085) tại tỉnh Katanga, phía đông nam Cộng hòa Dân chủ Congo (DRC), thông qua các công ty con là Công ty Khai thác Jinjing và Công ty Khai thác Yuanjing, với tổng diện tích khu vực khai thác là 68,77 km². Mỏ đồng Dikulushi, bắt đầu sản xuất vào tháng 12 năm 2021, thuộc quyền khai thác mỏ PE606. Tính đến cuối tháng 12 năm 2025, trữ lượng quặng còn lại của mỏ đồng Dikulushi khoảng 430.000 tấn, với hàm lượng đồng trung bình 7,58%.
Kể từ khi mỏ đồng Dikulushi đi vào sản xuất, công ty đã liên tục kéo dài vòng đời mỏ thông qua khai thác và thăm dò đồng thời, đạt kết quả đáng kể: báo cáo thường niên năm 2021 công bố tuổi thọ khai thác còn lại 3,58 năm, trong khi báo cáo thường niên năm 2025 công bố 2,98 năm. Trong tương lai, phương thức khai thác và thăm dò đồng thời này sẽ được duy trì.
Hoạt động sản xuất và tiêu thụ của mỏ đồng Dikulushi có tính đến mùa mưa địa phương từ tháng 11 đến tháng 4, doanh số bán hàng không phân bổ đều trong năm. Thông thường, mùa mưa ảnh hưởng đến tình trạng đường ngoại vi khu vực mỏ, tác động đến vận chuyển sản phẩm, nên doanh số tương đối thấp hơn vào mùa mưa.
4. Mở rộng và xây dựng khu Đông mỏ đồng Lonshi
Theo “Nghiên cứu khả thi Dự án khai thác và chế biến khu Đông mỏ đồng Lonshi tại CHDC Congo” do công ty công bố tháng 1 năm 2025, khu Đông sẽ áp dụng khai thác hầm lò, quy mô khai thác thiết kế hàng năm 2,5-3,5 triệu tấn và thời gian xây dựng cơ bản dự kiến 4,5 năm. Sẽ đạt công suất tối đa vào năm thứ 4 sau khi vận hành, tổng tuổi thọ phục vụ 12 năm. Để cân bằng vòng đời phục vụ giữa khu Đông và khu Tây, khu Tây sẽ cắt giảm sản lượng theo từng năm sau khi khu Đông vận hành, tổng sản lượng quặng khai thác hầm lò tối đa hàng năm của cả hai khu là 4,5 triệu tấn. Sau khi khu Đông đạt công suất tối đa, tổng sản lượng kim loại đồng hàng năm của khu Đông và khu Tây mỏ đồng Lonshi sẽ đạt khoảng 100.000 tấn.
5. Mô hình định giá dịch vụ khai thác mỏ
Mô hình định giá dịch vụ khai thác mỏ là giá thành cộng lãi, dựa trên trữ lượng tài nguyên, độ khó kỹ thuật khai thác... sử dụng hiệu quả vận hành và chi phí hoạt động tiêu chuẩn ngành làm cơ sở định giá. Nhìn chung, không liên kết với giá sản phẩm tài nguyên khoáng sản.
6. Niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hồng Kông
Để tiếp tục thúc đẩy bố cục chiến lược toàn cầu, xây dựng nền tảng vận hành vốn quốc tế, mở rộng kênh tài chính đa dạng qua thị trường vốn quốc tế, nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh tổng hợp và không ngừng gia tăng ảnh hưởng quốc tế, củng cố năng lực cạnh tranh cốt lõi, công ty đang lên kế hoạch phát hành cổ phiếu niêm yết ở nước ngoài (cổ phiếu H) và niêm yết trên Sàn Chính của Sở Giao dịch Chứng khoán Hồng Kông. Công ty đang tích cực thảo luận về các công việc liên quan đến đợt phát hành và niêm yết cổ phiếu H lần này. Các chi tiết cụ thể vẫn chưa được xác định. Khi kế hoạch cụ thể được hoàn tất, việc phát hành và niêm yết cổ phiếu H vẫn cần phải được trình lên hội đồng quản trị công ty' và đại hội đồng cổ đông để xem xét, đồng thời cần có hồ sơ, phê duyệt và/hoặc sự chấp thuận từ các cơ quan chính phủ và quản lý liên quan như Ủy ban Chứng khoán Trung Quốc, Sở Giao dịch Chứng khoán Hồng Kông và Ủy ban Chứng khoán và Hợp đồng Tương lai Hồng Kông. Có nhiều sự không chắc chắn về việc liệu đợt phát hành và niêm yết cổ phiếu H có thể vượt qua các thủ tục thảo luận, nộp hồ sơ và xem xét để cuối cùng được thực hiện hay không.
7. Tiềm năng phát triển của mảng kinh doanh dịch vụ khai thác mỏ
Áp dụng chiến lược thị trường mục tiêu tập trung vào "thị trường lớn, chủ sở hữu lớn, dự án lớn", một mặt, công ty luôn thực hiện triết lý cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng cho các chủ mỏ bằng công nghệ hàng đầu, giành được sự công nhận của họ thông qua các dịch vụ xây dựng mỏ chất lượng cao, và sau đó đảm nhận các hoạt động quản lý và vận hành khai thác mỏ về sau. Mặt khác, bằng cách tăng cường thiết kế mỏ và nghiên cứu phát triển công nghệ (R&D), công ty đã bước đầu hình thành một mô hình kinh doanh tổng hợp tích hợp bao gồm xây dựng mỏ, quản lý vận hành khai thác, cùng thiết kế mỏ và nghiên cứu phát triển công nghệ (R&D). Mô hình này có thể đáp ứng hiệu quả hơn nhu cầu của chủ mỏ về xây dựng mỏ và vận hành khai thác, giúp đạt được quá trình chuyển đổi nhanh chóng và ổn định từ xây dựng cơ bản sang sản xuất, rút ngắn thời gian xây dựng, đạt được vận hành nhanh và đầy đủ công suất, đồng thời tiết kiệm chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng cho chủ mỏ. Đồng thời, không gian phát triển cho hoạt động kinh doanh dịch vụ khai thác mỏ của công ty' sẽ trở nên rộng lớn hơn.
Trong tương lai, sự phát triển của mảng kinh doanh dịch vụ khai thác mỏ sẽ chủ yếu đến từ hai hướng: thứ nhất, các dự án bên ngoài mới được thực hiện; thứ hai, sự mở rộng gia tăng của các dự án hiện có — các mỏ lớn thường có nhiều thân quặng, và việc phát triển chúng thường được tiến hành theo từng giai đoạn. Cụ thể, khi giai đoạn một tiến triển đến một mức độ nhất định, việc xây dựng giai đoạn hai sẽ bắt đầu. Trong quá trình này, các chủ mỏ sẽ tích cực tìm kiếm các nhà cung cấp dịch vụ chất lượng cao.
8. Tiến độ xây dựng Khu Mỏ phía Bắc của Mỏ Quặng Phốt phát
Khu Mỏ phía Bắc Mỏ Quặng Phốt phát Liangchahe có quy mô sản xuất 500.000 tấn/năm và hiện đang trong quá trình xây dựng, với mục tiêu hoàn thành và đưa vào sản xuất vào cuối năm 2028.
9. Quan điểm về Xu hướng Giá Đồng
Nhìn vào giai đoạn hiện tại và sắp tới, thị trường đồng đang đối mặt với một trạng thái "cân bằng chặt chẽ" rõ rệt. Về phía cung, sản lượng khai thác bị hạn chế nghiêm ngặt bởi hai yếu tố kìm hãm là chất lượng quặng đồng trung bình toàn cầu suy giảm và chi tiêu vốn dài hạn không đủ, trong khi rủi ro gián đoạn ở các mỏ đang gia tăng. Về phía cầu, quá trình chuyển đổi năng lượng toàn cầu (lĩnh vực năng lượng mới) và xây dựng cơ sở hạ tầng tại các thị trường mới nổi mang lại hỗ trợ nhu cầu bền vững và dẻo dai. Trong bối cảnh này, giá đồng được kỳ vọng sẽ tăng nhẹ trong trung và dài hạn.
10. Chiến lược Phát triển Tương lai của Công ty
Trên cơ sở duy trì phát triển ổn định mảng kinh doanh khai thác mỏ hiện có, công ty tận dụng lợi thế tích lũy về công nghệ, quản lý và ngành để tích cực mở rộng sang lĩnh vực phát triển tài nguyên, từng bước khám phá con đường phát triển "dịch vụ khai khoáng + tài nguyên." Với sự thúc đẩy của hai động lực "dịch vụ khai khoáng" và "phát triển tài nguyên," công ty thúc đẩy chuyển đổi toàn diện từ một doanh nghiệp dịch vụ khai khoáng đơn lẻ sang một công ty khai thác mỏ theo mô hình tập đoàn.
11. Lợi thế Cạnh tranh của Công ty trong Ngành
Với chuyên môn sâu rộng tích lũy từ xây dựng mỏ và quản lý vận hành khai khoáng, công ty mở rộng dọc theo chuỗi giá trị ngành khai khoáng sang các lĩnh vực như phát triển tài nguyên mỏ, thiết kế và nghiên cứu & phát triển (R&D), và sản xuất thiết bị, từng bước nâng cao năng lực dịch vụ tích hợp và kiểm soát cho các dịch vụ khai khoáng. Công ty có thể phản hồi kinh nghiệm thu được trong quá trình xây dựng và các vấn đề phát hiện qua các kênh nhanh nhất và với chi phí thấp nhất đến giai đoạn tư vấn phát triển và thiết kế, đồng thời đưa các thành tựu nghiên cứu khoa học mới nhất của công ty vào hoạt động thiết kế để tối ưu hóa phương án thiết kế, giúp các đổi mới khoa học công nghệ nhanh chóng chuyển hóa thành lực lượng sản xuất áp dụng trong lĩnh vực phát triển tài nguyên. Điều này giúp rút ngắn chu kỳ xây dựng của các dự án phát triển tài nguyên, giảm chi phí sản xuất đơn vị và tăng biên độ an toàn trong cạnh tranh thị trường đối với sản phẩm khoáng sản. Thông qua lợi thế của hoạt động tích hợp, công ty nâng cao hiệu quả phát triển dự án tài nguyên, kéo dài tuổi thọ dự án và tối đa hóa giá trị kinh tế của các dự án tài nguyên.
12. Có Kế hoạch Mua lại Mỏ nào Nữa không?
Từ góc độ chiến lược dài hạn, công ty tập trung vào các dự án tài nguyên phù hợp với quy mô và có tiềm năng đầu tư giá trị. Hiện tại, công ty đã sở hữu năm dự án tài nguyên mỏ, do đó ưu tiên đạt được tăng trưởng trữ lượng thông qua công tác thăm dò tại các dự án hiện hữu, coi đây là cách thu mua tài nguyên tiết kiệm hơn.
Đồng thời, tận dụng lợi thế về xây dựng và vận hành mỏ, công ty cũng sẽ tìm hiểu mở rộng kinh doanh thông qua hình thức góp vốn cùng vận hành.
Về hiệu quả kinh doanh, báo cáo quý I năm 2026 của JCHX công bố ngày 28 tháng 4 cho thấy công ty đạt tổng doanh thu hoạt động 3,414 tỷ nhân dân tệ, tăng 21,45% so với cùng kỳ và lợi nhuận ròng thuộc về cổ đông là 601 triệu nhân dân tệ, tăng 42,55% so với cùng kỳ.


Về nguyên nhân tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận ròng quý I, thông báo của JCHX cho biết chủ yếu do sản lượng tiêu thụ sản phẩm tài nguyên khoáng sản (đồng catốt, tinh quặng đồng, quặng sắt) tăng và giá sản phẩm đồng tăng trong kỳ.
Báo cáo thường niên năm 2025 của JCHX công bố cho thấy doanh thu năm 2025 của công ty là 13,894 tỷ nhân dân tệ, tăng 39,74% so với cùng kỳ, lợi nhuận ròng thuộc về cổ đông là 2,339 tỷ nhân dân tệ, tăng 47,66% so với cùng kỳ.

JCHX nêu trong báo cáo thường niên năm 2025 rằng, doanh thu hoạt động tăng 39,74% và lợi nhuận ròng thuộc về cổ đông tăng 47,66% so với cùng kỳ chủ yếu đến từ việc các dự án mỏ tự có trong mảng phát triển tài nguyên mỏ tăng sản lượng và nâng cao hiệu quả trong kỳ báo cáo.
Một báo cáo nghiên cứu của China Post Securities nhận định về hiệu quả kinh doanh của JCHX cho thấy mảng tài nguyên ghi nhận tăng trưởng sản lượng, trong khi mảng dịch vụ khai thác mỏ tạo ra lực cản nhẹ. Phân theo mảng kinh doanh, năm 2025 mảng tài nguyên mỏ đạt doanh thu/lợi nhuận gộp 6,986/3,121 tỷ nhân dân tệ, tăng 117,67%/130,20% so với cùng kỳ, còn mảng dịch vụ khai thác mỏ đạt tổng doanh thu/lợi nhuận gộp 6,613/1,515 tỷ nhân dân tệ, tăng 1,06%/-13,47% so với cùng kỳ. Mảng mỏ được hưởng lợi cả về sản lượng và giá, trong khi sự sụt giảm ở mảng dịch vụ khai thác mỏ chủ yếu do mỏ đồng Lubambe sau khi được mua lại trở thành đơn vị nội bộ, làm giảm doanh thu và lợi nhuận gộp ghi nhận, và một số dự án chịu ảnh hưởng bởi khối lượng vận hành/hay quá trình tăng sản lượng suy giảm. Về sản lượng: Năm 2025, tiêu thụ kim loại đồng đạt 92.700 tấn, tăng 88,16% so với cùng kỳ, tiêu thụ quặng phốt phát đạt 357.400 tấn, giảm 1,00% so với cùng kỳ. Sự gia tăng sản lượng và tiêu thụ đồng kim loại chủ yếu do mỏ đồng Lonshi đạt công suất tối đa và giải phóng sản lượng, với các mỏ đồng Dikulushi và Lonshi vượt kế hoạch sản xuất, và mỏ đồng Lubambe được hợp nhất cả năm. Trong quý 1 năm 2026, sản lượng và tiêu thụ đồng kim loại lần lượt là 22.400/18.100 tấn, chủ yếu chịu ảnh hưởng bởi sự suy giảm hàm lượng và mùa mưa. Giá: Năm 2025, giá đồng tăng 7,62% so với cùng kỳ năm trước, và quý 1 năm 2026 tăng 36,72% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng năm 2026 dự kiến tăng trưởng ổn định, với tiềm năng mở rộng lớn về dài hạn. Năm 2026, các dự án tài nguyên tự có của công ty dự kiến sản xuất 100.300 tấn đồng kim loại (tương đương) và tiêu thụ 99.700 tấn đồng kim loại (tương đương), cùng sản xuất và tiêu thụ 300.000 tấn quặng photphat; dự án magnetit núi Istanex dự kiến sản xuất và tiêu thụ 1,25 triệu tấn tinh quặng sắt. Về dài hạn, khu khai thác phía bắc của mỏ quặng photphat Liangchahe dự kiến được đưa vào sử dụng vào cuối năm 2028, với công suất hàng năm tăng từ 300.000 tấn lên 800.000 tấn; khu vực phía đông của mỏ đồng Lonshi, sau khi đưa vào vận hành, có thể mở rộng sản lượng hàng năm từ 40.000 tấn lên 100.000 tấn; mỏ đồng Lubambe đang được cải tạo công nghệ, sau khi hoàn thành dự kiến sản xuất 35.000 tấn đồng mỗi năm; tỷ lệ vốn chủ sở hữu của công ty tại mỏ đồng-vàng-bạc San Matias đã đạt 97,5%, và đang trong giai đoạn phê duyệt EIA. Cảnh báo rủi ro: rủi ro biến động giá; rủi ro tiến độ dự án không đạt kỳ vọng; rủi ro nhu cầu hạ nguồn không đạt kỳ vọng; rủi ro giả định mô hình không phù hợp với thực tế; rủi ro chính sách vượt dự kiến, v.v.
![Thị trường giao ngay bạch kim chứng kiến lượng hàng dồi dào và chào giá trái chiều; giao dịch ảm đạm không thay đổi [Bình luận hàng ngày SMM]](https://imgqn.smm.cn/usercenter/VCNvX20251217171735.jpeg)
![Cuộc giằng co giữa Mỹ và Iran tại eo biển, giá bạc đi ngang [Đánh giá hàng ngày của SMM]](https://imgqn.smm.cn/usercenter/kLgYV20251217171736.jpg)

