Vào tháng 7 năm 2026, thị trường phế liệu đồng hoạt động trong bối cảnh hợp đồng đồng giao sau được giao dịch nhiều nhất trên SHFE tăng vọt từ 102.000 nhân dân tệ/tấn lên trên 106.000 nhân dân tệ/tấn, với mức tăng trong tháng vượt 3.000 nhân dân tệ/tấn. Dưới tác động kết hợp của xu hướng tăng một chiều liên tục của đồng catốt và sự kháng cự giảm giá, giữ vững giá của phế liệu đồng, chênh lệch giá giữa kim loại sơ cấp và phế liệu đã nới rộng từ khoảng 2.000 nhân dân tệ/tấn vào đầu tháng lên hơn 4.000 nhân dân tệ/tấn vào cuối tháng, có lúc lên tới 4.800 nhân dân tệ/tấn vào giữa tháng. Đặc tính cố hữu của phế liệu đồng là kháng cự giảm giá, đây là đặc điểm nổi bật về phía cung trong suốt tháng. Dưới hai ràng buộc là quá trình tuân thủ liên tục về hóa đơn ngược và mùa thấp điểm nhiệt độ cao ngày càng sâu sắc, thị trường thể hiện bức tranh phân cực rõ rệt: nguồn cung thắt chặt về mặt cơ cấu, hoạt động thu mua mạnh mẽ theo logic kinh doanh chênh lệch giá ở hạ nguồn, và tiêu thụ vật chất thậm chí còn yếu hơn trong mùa thấp điểm. Mặc dù giá đồng tăng và chênh lệch giá nới rộng kích thích nhu cầu thu mua từ hạ nguồn, nhưng việc thu mua chủ yếu lại theo logic phòng ngừa rủi ro “mua nguyên liệu và bán khống hợp đồng tương lai”, khiến lượng tích trữ cho sản xuất thực tế rất hạn chế.
Về phía cung, thị trường phế liệu đồng tiếp tục kéo dài tình trạng thắt chặt cơ cấu đã thấy từ năm 2026, với ràng buộc cốt lõi vẫn là chính sách hóa đơn ngược. Từ ngày 1 tháng 7, chính sách “hóa đơn ngược ba dòng hợp nhất” mới chính thức có hiệu lực, nhưng sự giám sát chặt chẽ hơn đã diễn ra tại Giang Tây, Hồ Bắc và các khu vực khác. Tại Giang Tây, sản xuất bị đình chỉ sau khi hết hạn ngạch; tại Hồ Bắc, các cuộc điều tra hồi tố theo chính sách hóa đơn ngược gây lo ngại cho doanh nghiệp; và tại Thục Dương, Giang Tô, hạn ngạch xuất hóa đơn vẫn bị hạn chế, khiến nguồn cung phế liệu đồng tuân thủ và được khấu trừ trên thị trường duy trì tình trạng khan hiếm. Sau khi Chỉ thị số 770 xóa bỏ các khoản hoàn thuế bất hợp pháp địa phương vào cuối năm 2025, các doanh nghiệp kinh doanh phế liệu đồng vừa và nhỏ dựa vào trợ cấp tiếp tục rời khỏi thị trường, khiến tổng nguồn cung khả dụng thu hẹp đáng kể so với cùng kỳ các năm trước. Thuế suất trên hóa đơn phế liệu đồng chính thống vượt 11%, lên tới 12% tại một số vùng, đẩy chi phí thu mua nguyên liệu của doanh nghiệp lên cao hơn.
Về nhập khẩu, lượng phế liệu đồng nhập khẩu lũy kế của Trung Quốc từ tháng 1 đến tháng 6 đạt 1,2415 triệu tấn (tính theo hàm lượng vật chất), tăng 8,39% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù việc mở rộng công suất luyện kim đồng thứ cấp ở Mỹ và châu Âu đã hút bớt nguồn cung phế liệu chất lượng cao, các doanh nghiệp sử dụng phế liệu trong nước, dưới ảnh hưởng của yếu tố chính sách, sẵn sàng trả phụ phí cao hơn để đảm bảo nguồn nguyên liệu đồng thứ cấp từ nước ngoài. Ngay cả với tỷ lệ chiết khấu cao của nguyên liệu đồng thứ cấp nước ngoài, nhập khẩu các nguyên liệu này chưa có dấu hiệu giảm trong ngắn hạn. Tuy nhiên, đơn hàng từ hạ nguồn chỉ ở mức trung bình do mùa tiêu thụ truyền thống thấp điểm, gây áp lực nhất định lên tăng trưởng nhập khẩu tiếp theo. Ngoài ra, tháng 6 là thời kỳ tập trung bảo trì của một số lò luyện, dẫn đến nhu cầu khác biệt đối với các loại nguyên liệu đồng thứ cấp khác nhau. Do khả năng thay thế mạnh mẽ của đồng trần (bare bright copper) cho đồng catốt, nhu cầu thu mua loại này tương đối ổn định, với hệ số giao dịch duy trì ở mức cao. Ngược lại, đồng số 1 và đồng số 2 chịu ảnh hưởng lớn từ đợt bảo trì của lò luyện và sự chậm lại theo giai đoạn của nhu cầu nguyên liệu, khiến hệ số giao dịch của chúng giảm nhẹ. Nhìn chung, giá đồng đi ngang với xu hướng tăng nhẹ trong tháng 7, nhưng giao dịch vẫn trì trệ trong bối cảnh tiêu thụ hạ nguồn tương đối yếu. Mức chiết khấu của đồng trần so với đồng catốt nới rộng từ khoảng 500 nhân dân tệ/tấn vào đầu tháng lên khoảng 900 nhân dân tệ/tấn. Bất chấp nhu cầu sử dụng cuối cùng yếu, giá của nguyên liệu đồng thứ cấp bao gồm thuế vẫn ở mức tương đối cao trong bối cảnh nguồn cung hóa đơn trong nước khan hiếm kéo dài và hạn chế về hàng đã nộp thuế. Về phía cầu, chênh lệch giá giữa kim loại sơ cấp và phế liệu nới rộng lên trên 3.800 nhân dân tệ/tấn, khiến lợi ích kinh tế của phế liệu đồng trở nên rõ ràng, và nhu cầu mua vào của các doanh nghiệp sản xuất thanh đồng thứ cấp khá mạnh mẽ. Tuy nhiên, nhu cầu mua mạnh mẽ này chủ yếu nhắm vào chênh lệch giá hợp đồng tương lai hơn là tích trữ vật chất: trong giai đoạn giá đồng tăng vọt, các doanh nghiệp sản xuất thanh đồng thứ cấp thường áp dụng chiến lược phòng ngừa rủi ro “mua phế liệu đồng đồng thời bán khống hợp đồng tương lai” để thu mua phế liệu đồng. Tuy nhiên, các giao dịch mua dựa trên chênh lệch giá này không chuyển hóa hoàn toàn thành tích trữ sản xuất thực tế, khiến tỷ lệ vận hành của các doanh nghiệp sản xuất thanh đồng thứ cấp chỉ nhích lên từ 17,38% vào đầu tháng lên 18,29% vào cuối tháng.
Trong lĩnh vực luyện kim, các nhà sản xuất tấm anode sử dụng phế liệu đồng, bị hạn chế bởi chính sách “hóa đơn ngược”, buộc phải mua lượng lớn phế liệu đồng nhập khẩu để đảm bảo việc giao hàng theo các hợp đồng dài hạn. Tuy nhiên, tăng trưởng của phế liệu đồng nhập khẩu bị hạn chế và không thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu từ chế biến hạ nguồn và luyện kim, khiến một số nhà sản xuất tấm anode phải đóng cửa một phần công suất, và sản lượng giao theo hợp đồng dài hạn dự kiến sẽ giảm.
Tiêu chuẩn thực hiện chính sách “hóa đơn ngược” khác nhau tùy theo khu vực. Một số doanh nghiệp sản xuất thanh đồng thứ cấp đối mặt với tình trạng thiếu hóa đơn đầu vào do vấn đề “hóa đơn ngược”, không thể phát hành đủ hóa đơn đầu ra cho khách hàng hạ nguồn, khiến một phần thanh toán bị tạm giữ ở mức 13%-15%. Trong khi đó, khách hàng hạ nguồn của các nhà sản xuất tấm anode sử dụng phế liệu đồng chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước, họ phải đảm bảo tính an toàn và tuân thủ của hóa đơn đầu ra. Cách tiếp cận an toàn nhất là mua phế liệu đồng nhập khẩu vốn đã bao gồm thuế VAT 13%, từ đó tránh rủi ro hóa đơn đầu vào bị đảo ngược do “hóa đơn ngược” không tuân thủ.
Trong bối cảnh chính sách “hóa đơn ngược” và “chấn chỉnh nền kinh tế hóa đơn”, chi phí hóa đơn cho phế liệu đồng đã bao gồm thuế trên thị trường tăng mạnh, khiến chênh lệch giá gồm thuế giữa kim loại sơ cấp và phế liệu lệch khỏi điều kiện thực tế của thị trường.
Hướng tới tháng 8, nếu chênh lệch giá giữa kim loại sơ cấp và phế liệu có thể ổn định trên 4.000 nhân dân tệ/tấn, tiêu chí thực hiện hóa đơn ngược được làm rõ hơn, và hạn mức tín dụng tại một số khu vực được nới lỏng chút ít, thì điều này có thể thúc đẩy một phần nhu cầu cứng được giải phóng. Ngược lại, nếu không, dưới sự kết hợp của tồn kho đồng catốt thấp, mức phí cộng cao, và tâm lý không muốn mua ở mức giá cao của hạ nguồn, thị trường phế liệu đồng sẽ tiếp tục duy trì mô hình cân bằng yếu là “bên bán bán ra khi giá đồng tăng và các doanh nghiệp sản xuất thanh đồng mua vào để phòng ngừa rủi ro, còn khi giá đồng cao, cả hai bên đều đứng ngoài quan sát”. Sự phục hồi thực sự của tiêu thụ vật chất vẫn phải chờ vào một đợt điều chỉnh giảm của giá đồng hoặc sự cải thiện đáng kể trong đơn hàng của người dùng cuối.



