7.27 Biên bản họp sáng SMM Nhôm
Hợp đồng tương lai: Hợp đồng nhôm SHFE được giao dịch nhiều nhất mở cửa ở mức 23.195 NDT/tấn trong phiên đêm ngày 24/7, đạt cao nhất 23.220 NDT/tấn và thấp nhất 23.105 NDT/tấn, đóng cửa tại 23.205 NDT/tấn, giảm 0,09% so với phiên trước. Trong giai đoạn này, giá hồi phục rồi đi ngang ở vùng cao, đóng cửa tạo nến giảm nhỏ. Giá dao động trong vùng các đường trung bình động ngắn hạn hội tụ gồm MA5 (23.232,43), MA10 (23.220,90), MA20 (23.186,42) và MA40 (23.221,95). Hệ thống đường trung bình động hình thành hỗ trợ phía dưới, trong khi áp lực phía trên chủ yếu đến từ MA60 (23.345,74) – đường trung bình động trung và dài hạn. Hỗ trợ tại đáy giai đoạn 22.875 vẫn vững, đặc điểm đi ngang sau nhịp hồi phục thể hiện rõ. Khối lượng giao dịch trong giai đoạn này đạt 50.900 lô, giảm mạnh so với giai đoạn trước. OI ở mức 253.000 lô, tăng nhẹ 445 lô so với giai đoạn trước. Hợp đồng tương lai cho thấy dấu hiệu tăng nhẹ vị thế bán, nhưng sức mạnh dòng tiền tương đối yếu. Về kỹ thuật, trên MACD khung 4 giờ, DIFF (28,68) nằm trên DEA (17,47), cấu trúc giao cắt vàng tiếp diễn. Giá trị cột đỏ STICK là 22,42; động lực tăng thu hẹp nhẹ nhưng xu hướng chưa đảo chiều. Nhôm LME mở cửa ở mức 3.189,0 USD/tấn ngày 24/7, đạt cao nhất 3.189,5 USD/tấn và thấp nhất 3.149,5 USD/tấn, đóng cửa tại 3.165,0 USD/tấn, giảm 0,78% so với phiên trước. Trong ngày giao dịch này, giá hồi lên vùng cao rồi chịu áp lực điều chỉnh, đóng cửa tạo nến giảm nhỏ. Giá lùi xuống dưới các đường trung bình động ngắn hạn MA5 (3.173,21) và MA10 (3.168,82). Ở phía trên, các đường trung bình động trung và dài hạn MA20 (3.187,07), MA40 (3.262,70) và MA60 (3.305,75) xếp theo hướng giảm, tạo kháng cự. Hỗ trợ tại đáy giai đoạn 3.040 vẫn vững, thị trường bước vào giai đoạn đi ngang và điều chỉnh sau nhịp hồi phục. Khối lượng giao dịch trong ngày là 13.383 lô, giảm nhẹ so với giai đoạn trước. OI ở mức 593.000 lô, tăng 2.140 lô so với giai đoạn trước. Hợp đồng tương lai cho thấy dấu hiệu tăng nhẹ vị thế bán, và áp lực giảm tương đối yếuXét về kỹ thuật, trên MACD khung ngày, DIFF (-44,58) nằm trên DEA (-63,23), cấu trúc giao cắt vàng tiếp tục duy trì. Giá trị STICK của histogram đỏ là 37,3; động lực tăng suy yếu nhẹ nhưng chưa đảo chiều. Trong ngắn hạn, thị trường chủ yếu đi ngang ở vùng cao kèm nhịp điều chỉnh, rủi ro giảm một mạch theo một chiều là hạn chế.
Vĩ mô: Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lâm Kiến, chủ trì họp báo thường kỳ, cho biết lập trường của Trung Quốc về các vấn đề kinh tế và thương mại Trung–Mỹ là nhất quán và rõ ràng, đồng thời phản đối các biện pháp áp thuế đơn phương dưới mọi hình thức; chiến tranh thuế quan và chiến tranh thương mại không phục vụ lợi ích của bất kỳ bên nào. Theo CME “FedWatch”: xác suất Fed Mỹ giữ nguyên lãi suất trong tháng 7 là 62,1%, và xác suất tăng lũy kế 25 điểm cơ bản là 37,9%. Xác suất Fed Mỹ giữ nguyên lãi suất đến hết tháng 9 là 15,1%; xác suất tăng lũy kế 25 điểm cơ bản là 56,2%, và xác suất tăng lũy kế 50 điểm cơ bản là 28,7%.
Cơ bản: Tuần trước, thị trường phôi nhôm giao ngay tại châu Á ngoài Trung Quốc nhìn chung chịu áp lực giảm, giá giao dịch giao ngay bình quân tại các khu vực giao dịch chủ đạo của châu Á điều chỉnh giảm mạnh so với tuần trước. Các ngành hạ nguồn bước vào mùa thấp điểm tiêu thụ truyền thống, nhu cầu mua vẫn ảm đạm; cùng với tồn kho đè nặng ở một số thương nhân và áp lực vốn gia tăng, hoạt động bán giá thấp tăng lên, mức độ phân hóa báo giá thị trường nới rộng rõ rệt, và mặt bằng giá giao ngay tiếp tục suy yếu. Trong ngắn hạn, vẫn chưa có dấu hiệu cải thiện mô hình mùa thấp điểm ở hạ nguồn châu Á; hoạt động mua theo nhu cầu tức thời của người dùng cuối khó có thể tăng quy mô, và khi chu kỳ xả tồn của thương nhân vẫn tiếp diễn, mức premium giao ngay phôi nhôm ở nước ngoài có thể tiếp tục ảm đạm. Thời gian tới, cần tiếp tục theo dõi nhịp độ phục hồi của hạ nguồn, các hợp đồng dài hạn bổ sung mới được ký, và tiến độ giảm tồn kho của thương nhân. Nếu nhu cầu tiếp tục yếu, giá giao ngay theo khu vực vẫn còn dư địa giảm thêm. Về tồn kho, tính đến thứ Hai tuần này, tồn kho phôi nhôm tại các khu vực tiêu thụ chủ đạo ở Trung Quốc đạt 979.000 tấn, giảm 27.000 tấn so với thứ Năm tuần trước và giảm 43.000 tấn so với thứ Hai tuần trước đó
Thị trường nhôm nguyên sinh: Trong phiên giao dịch đầu ngày, trọng tâm giao dịch của hợp đồng nhôm SHFE 2606 thấp hơn so với cùng thời điểm của phiên trước. Chịu tác động từ hoạt động tích trữ cuối tuần và giá nhôm giảm, tâm lý mua trên thị trường tăng nhẹ; tuy nhiên, do nguồn cung lưu thông vẫn tương đối dồi dào, mức chấp nhận giá của thị trường chỉ nhích lên đôi chút. Giá giao dịch chủ đạo ở mức chiết khấu 10 NDT/tấn đến cộng 10 NDT/tấn so với hợp đồng nhôm SHFE 08. Hôm nay, chỉ số tâm lý giao hàng tại thị trường Hoa Đông là 3,13, đi ngang so với tuần trước; chỉ số tâm lý mua là 2,94, tăng 0,03 so với tuần trước. Hôm nay, giá nhôm kỳ hạn điều chỉnh giảm nhẹ. Với hoạt động tích trữ trước cuối tuần và ngày giao hàng cuối của hợp đồng dài hạn vào cuối tháng, các thương nhân tại Trung Quốc miền Trung mua vào khối lượng lớn để giao cho hợp đồng dài hạn; tâm lý tích trữ của doanh nghiệp gia công hạ nguồn cũng phục hồi nhẹ, khiến báo giá giao hàng của bên cung luôn duy trì ở mức cao, thể hiện rõ ý chí giữ giá và hạn chế bán ra. Cuối cùng, biên giá giao dịch thực tế tại thị trường Trung Quốc miền Trung dao động ở mức chiết khấu 100–120 NDT/tấn so với hợp đồng nhôm SHFE 08. Hôm nay, chỉ số tâm lý giao hàng tại thị trường Trung Quốc miền Trung là 3,1, tăng 0,01 so với tuần trước; chỉ số tâm lý mua là 2,96, tăng 0,08 so với tuần trước.
Phế liệu nhôm: Hôm nay, giá nhôm giao ngay SMM A00 chốt ở mức 23.200 NDT/tấn, giảm 60 NDT/tấn so với phiên trước, trong khi thị trường phế liệu nhôm nhìn chung ổn định. Về chênh lệch giá giữa nhôm A00 và phế liệu nhôm, tính đến ngày 24/7, chênh lệch giữa nhôm A00 và phế liệu nhôm đùn hỗn hợp không sơn tại Phật Sơn khoảng 2.030 NDT/tấn, còn chênh lệch giữa nhôm A00 và phế liệu nhôm căng (tense) đã băm khoảng 710 NDT/tấn, tiếp tục duy trì ở mức cực thấp trong lịch sử. Về nhập khẩu, dữ liệu hải quan cho thấy nhập khẩu phế liệu nhôm của Trung Quốc đạt khoảng 132.800 tấn trong tháng 6/2026, giảm tháng thứ ba liên tiếp so với 152.000 tấn của tháng 5. Tính lũy kế năm 2026, tổng nhập khẩu phế liệu nhôm từ tháng 1 đến tháng 6 khoảng 981.800 tấn. Gần đây, đơn hàng nhập khẩu vào Quảng Đông từ Đông Nam Á tăng nhẹ. Dù “cửa sổ” nhập khẩu cải thiện so với trước đó, phần lớn các giao dịch mới tập trung vào nguồn hàng giá thấp, và hoạt động thị trường giao ngay nhìn chung vẫn hạn chế. Bị ảnh hưởng bởi lệnh cấm xuất khẩu phế liệu nhôm của UAE và chính sách tăng thuế của EU, tác động thắt chặt đối với nguồn cung phế liệu nhôm nhập khẩu chất lượng cao dự kiến sẽ ngày càng rõ rệt trong thời gian tới. Thị trường phế liệu nhôm được kỳ vọng sẽ tiếp tục đi ngang vào tuần tới, với nhu cầu kìm hãm giá trong khi chi phí tạo lực đỡ. Trong bối cảnh mùa thấp điểm ngày càng sâu, đơn hàng tiêu thụ cuối nguồn hạ nguồn khó có khả năng cải thiện đáng kể. Doanh nghiệp sử dụng phế liệu sẽ tiếp tục mua theo nhu cầu, và bầu không khí thu mua khó cải thiện rõ rệt. Biên độ giao dịch chủ đạo của phế liệu nhôm băm “căng” (định giá theo hàm lượng nhôm) dự kiến dao động trong khoảng 19.800–20.500 nhân dân tệ/tấn. Hiện tại, chênh lệch giá giữa nhôm A00 và phế liệu nhôm đã thu hẹp xuống mức thấp lịch sử, làm suy yếu đáng kể lợi thế kinh tế của phế liệu nhôm so với nhôm nguyên sinh. Nếu giá nhôm nguyên sinh tiếp tục điều chỉnh giảm, hiệu ứng thay thế nhôm nguyên sinh thay phế liệu nhôm sẽ tăng tốc. Cần theo dõi sát tác động “lấn át” của biến động giá nhôm đối với nhu cầu phế liệu nhôm.
Hợp kim nhôm thứ cấp:Giao ngay: Hôm nay, báo giá thị trường ADC12 nhìn chung giữ ổn định, và mức độ sẵn sàng điều chỉnh giá của ngành nhìn chung không cao. Về các yếu tố dẫn dắt, dù phía chi phí tạo một phần hỗ trợ đáy cho giá, nhu cầu tiêu thụ cuối vẫn yếu, nhịp độ thu mua của hạ nguồn chậm lại, và tâm lý chờ đợi gia tăng do giá nhôm giảm nhẹ, qua đó cùng kìm hãm dư địa tăng. Trong bối cảnh đan xen giữa yếu tố tăng và giảm hiện nay, đa số nhà sản xuất chọn giữ giá và đứng ngoài quan sát, giao dịch thị trường tương đối trầm lắng. Trong ngắn hạn, thị trường ADC12 được dự báo sẽ tiếp tục tích lũy trong biên độ hẹp. Thời gian tới, cần tập trung theo dõi biến động chi phí phế liệu nhôm, xu hướng giá nhôm nguyên sinh và mức cải thiện của đơn hàng tiêu thụ cuối.
Triển vọng tổng thể:Gần đây, tâm lý ở mặt vĩ mô cải thiện nhẹ. Việc phí bù rủi ro địa chính trị Trung Đông tiếp tục tích lũy, cùng với quá trình giảm tồn kho nhôm thỏi tại Trung Quốc, đã đồng thời hỗ trợ giá nhôm; tuy nhiên, việc tiếp tục đưa vào vận hành công suất nhôm mới ở ngoài Trung Quốc và nhu cầu tiêu thụ cuối truyền thống tại Trung Quốc tương đối yếu, cùng với các bất định vĩ mô tái diễn, đã tạo áp lực rõ rệt lên dư địa tăng giáTrong ngắn hạn, giá nhôm được kỳ vọng sẽ duy trì xu hướng đi ngang tích lũy.
[Thông tin cung cấp chỉ mang tính tham khảo. Bài viết này không cấu thành khuyến nghị trực tiếp cho việc ra quyết định nghiên cứu đầu tư. Khách hàng cần thận trọng khi ra quyết định và không nên sử dụng nội dung này để thay thế cho đánh giá độc lập. Mọi quyết định của khách hàng không liên quan đến SMM.]



