Tin SMM ngày 24 tháng 7:
I. Tồn kho phôi nhôm chuyển từ giảm tồn kho sang tăng tồn kho, logic giảm tồn kho đã thay đổi
Theo thống kê của SMM, ngày 23/7, tồn kho phôi nhôm xã hội tại các khu vực tiêu thụ chính của Trung Quốc đạt 121.000 tấn, tăng 1.000 tấn so với thứ Hai tuần trước và tăng 6.500 tấn so với thứ Năm tuần trước, đánh dấu hai tuần liên tiếp tồn kho tăng. So với cùng kỳ các năm, tồn kho hiện tại thấp hơn 24.500 tấn so với cùng kỳ năm 2025, thấp hơn 10.200 tấn so với năm 2024, nhưng cao hơn 45.900 tấn so với năm 2023. Mặc dù mức tồn kho tuyệt đối vẫn thấp hơn cùng kỳ hai năm trước, logic giảm tồn kho đã rõ ràng thay đổi—từ giảm tồn kho nhanh chóng trong tháng 6 chuyển sang giai đoạn chuyển tiếp từ giảm sang tăng trong tháng 7, khiến hỗ trợ cho phí gia công suy yếu theo.

Từ dữ liệu xuất kho, lượng xuất kho phôi nhôm của Trung Quốc trong giai đoạn 14-20/7 ghi nhận 33.000 tấn, giảm 9.100 tấn so với tuần trước và 19.000 tấn so với cùng kỳ năm trước. Sự sụt giảm mạnh về lượng xuất kho phản ánh trực tiếp tâm lý mua hàng của khâu hạ nguồn hạ nhiệt nhẹ, cùng với sự suy giảm đáng kể trong hoạt động giao dịch thị trường. Xét theo khu vực, lượng hàng đến Phật Sơn tiếp tục tăng, khiến tồn kho tăng lên mức cao 53.000 tấn trong kỳ, trở thành yếu tố chính gây ra đợt tăng tồn kho này; trong khi đó tại Vô Tích, một số chuyển hàng khiến lượng đến giảm, dù được bù đắp một phần bởi hoạt động mua của hạ nguồn, khu vực này vẫn ghi nhận tồn kho tăng 1.000 tấn. Dưới tác động tổng hợp của cung và cầu, hiệu ứng hỗ trợ của môi trường tồn kho thấp đối với phí gia công đang dần suy yếu.

II. Phí gia công nhìn chung giảm, phân hóa theo khu vực rõ rệt
Trong tuần, giá nhôm trung tâm dao động trong biên độ hẹp và tương đối ổn định, với giá nhôm giao ngay SMM A00 tăng nhẹ lên 23.260 nhân dân tệ/tấn từ mức 23.170 nhân dân tệ/tấn vào thứ Năm tuần trước. Dưới áp lực kết hợp từ giá nhôm ổn định ở mức cao hơn một chút và lượng hàng đến miền Nam Trung Quốc liên tục tăng, phí gia công phôi nhôm nhìn chung giảm trên các khu vực.
Quan sát xu hướng phí gia công φ120 tại ba khu vực, miền Nam Trung Quốc chắc chắn là nơi chịu ảnh hưởng nặng nề nhất trong đợt giảm phí gia công lần này. Hiện tại, đường chi phí sản xuất phôi nhôm của Trung Quốc nằm trong khoảng 250-300 NDT/tấn, thay đổi theo sự khác biệt chi phí yếu tố khu vực. Tính đến ngày 23/7, phí gia công φ120 tại Phật Sơn đã giảm xuống 300 NDT/tấn, ngay sát biên trên của đường chi phí, siết lợi nhuận doanh nghiệp sát điểm hòa vốn. Tại Vô Tích, do nguồn cung phôi nhỏ khan hiếm, mức giảm của φ90 tương đối hạn chế, cho thấy tình trạng khan hiếm cơ cấu theo quy cách vẫn hỗ trợ phần nào cho phí gia công; tuy nhiên, φ120 cũng giảm 90 NDT/tấn, phản ánh áp lực gia tăng từ nguồn cung phôi lớn. Nam Xương có mức giảm tương đối nhỏ hơn, phản ánh nhịp độ cung-cầu địa phương tương đối ổn định.
Bước vào cuối tuần, tính đến ngày 24/7, giá trung bình φ120 tại Phật Sơn đã giảm xuống 270 NDT/tấn, phá vỡ dưới biên dưới của phạm vi đường chi phí 250–300 NDT/tấn. Tâm lý chờ đợi của hạ nguồn vẫn không thay đổi, nhu cầu mua sắm yếu và áp lực ép giá đáng kể theo diễn biến thị trường. Vì đây là ngày cuối cùng thanh toán hợp đồng dài hạn hàng tháng, do giá giao ngay cao hơn đáng kể so với giá trung bình tháng, một số nhà cung cấp có dư địa bán hàng rất lớn, không thiếu những người bán tháo với giá giảm mạnh. Mặc dù một số nhà cung cấp, trên thực tế đang bán lỗ, đã chọn giữ giá vững và không bán, điều này không thể ngăn phí gia công tiếp tục giảm.

III. Phía cầu: Tỷ lệ vận hành ép đùn giảm trở lại, đặc điểm mùa thấp điểm trầm trọng hơn
Động lực cơ bản đằng sau sự sụt giảm liên tục của phí gia công là sự suy yếu biên về phía cầu. Theo khảo sát của SMM, tuần này, tỷ lệ vận hành ép đùn nhôm hàng tuần của Trung Quốc ghi nhận 52,9%, giảm 0,4 điểm phần trăm so với tuần trước, tiếp tục trạng thái ảm đạm mùa thấp điểm. Xét theo phân ngành, ép đùn xây dựng liên tục bị ảnh hưởng bởi mùa thấp điểm sâu sắc và sự yếu kém của lĩnh vực bất động sản, nhu cầu sử dụng cuối cùng suy yếu hơn nữa; khách hàng hạ nguồn trở nên thận trọng hơn trong mua sắm, chủ yếu dựa vào nhu cầu cứng và đơn hàng khẩn cấp. Đơn hàng mới sụt giảm, kéo tỷ lệ vận hành chung xuống đáng kể.
Ép đùn công nghiệp cho thấy một số khả năng phục hồi. Một số doanh nghiệp khảo sát, nhờ lượng đơn hàng dồi dào trong mảng lưu trữ năng lượng, đã duy trì lịch sản xuất tương đối đầy đủ; đối với khung PV, lịch sản xuất của các công ty hàng đầu nhìn chung ổn định, và lịch sản xuất của các nhà sản xuất module hạ nguồn trong quý 3 dự kiến sẽ cao hơn một chút so với quý 2, điều này sẽ tạo sàn cho nhu cầu khung. Tuy nhiên, SMM cho rằng hỗ trợ biên từ ép đùn công nghiệp không đủ để bù đắp hoàn toàn sự suy yếu mùa thấp điểm của ép đùn xây dựng, và biên lợi nhuận gia công khả quan không đồng nghĩa với việc tiêu thụ cuối cùng mở rộng đồng thời. Liệu việc rút hàng khỏi kho có thể duy trì hay không vẫn cần được kiểm chứng. Nhìn chung, mua hàng hạ nguồn vẫn chủ yếu là nhu cầu cứng, với tâm lý giao dịch trên thị trường đơn hàng giao ngay ở mức vừa phải, hỗ trợ hạn chế cho phí gia công.
IV. Phía cung: Lượng hàng về tăng kết hợp với nhiệt tình sản xuất gây thêm áp lực lên phí gia công
Từ phía cung, lượng hàng về tăng liên tục tại Hoa Nam là yếu tố trực tiếp kích hoạt đợt giảm nhanh này của phí gia công. Tồn kho tại Phật Sơn tích lũy lên mức cao nhất giai đoạn là 53.000 tấn, phản ánh việc, do phí gia công trước đây ở mức cao, các nhà máy phôi đã đẩy nhanh tốc độ giao hàng trong khi nhu cầu địa phương không theo kịp, dẫn đến dư cung khu vực. Ngoài ra, trong khi phí gia công tại Vô Tích, Nam Xương và các khu vực khác tương đối khó giảm, thì nhiệt tình sản xuất phôi nhôm trên toàn quốc vẫn ở mức cao. Một khi phí gia công giảm xuống dưới đường chi phí, các doanh nghiệp có thể điều chỉnh biên thông qua cắt giảm sản xuất và bảo trì, nhưng tốc độ giải phóng nguồn cung trong ngắn hạn vẫn nhanh hơn tốc độ phục hồi nhu cầu.
5. Phí gia công có giữ vững được không?
Dựa trên mô hình cung cầu hiện tại, liệu phí gia công phôi nhôm trong nước có thể giữ vững gần đường chi phí hay không phụ thuộc vào các biến số chính sau:
Áp lực giảm vẫn còn:Thứ nhất, tồn kho đã tăng trong hai tuần liên tiếp, lượng rút hàng khỏi kho giảm mạnh so với tuần trước, và đặc điểm mùa thấp điểm của nhu cầu vẫn chưa kết thúc. Thứ hai, tốc độ hàng về tại Phật Sơn đã tăng nhẹ, và nguồn cung tương đối dồi dào tại Hoa Nam khó có thể đảo ngược cơ bản trong ngắn hạn. Thứ ba, đơn hàng đầu cuối đối với phôi định hình xây dựng vẫn yếu, việc ép giá đã trở thành thông lệ ở phía người mua hạ nguồn, và phí gia công thiếu động lực tăng từ phía cầu. Thứ tư, dù phí gia công đã rơi xuống vùng giá thành 250-300 nhân dân tệ/tấn, các nhà máy phôi thanh nhôm ít sẵn sàng cắt giảm sản xuất trong ngắn hạn, và tốc độ rút lui của phía cung vẫn chậm.
Hỗ trợ theo giai đoạn vẫn tồn tại:Thứ nhất, mức tồn kho tuyệt đối hiện tại vẫn thấp hơn cùng kỳ năm 2024 và 2025, áp lực tồn kho tổng thể chưa hoàn toàn vượt khỏi tầm kiểm soát. Một khi tốc độ hàng về chậm lại hoặc nhu cầu có dấu hiệu phục hồi nhẹ, kỳ vọng giảm tồn kho sẽ xuất hiện trở lại. Thứ hai, nguồn cung phôi thanh nhôm cỡ nhỏ ở Vô Tích và các khu vực khác vẫn khan hiếm, và sự thiếu hụt cục bộ một số quy cách đang tạo sàn cho phí gia công địa phương. Thứ ba, đơn hàng trong các phân ngành năng lượng mới thuộc phôi định hình công nghiệp, như lưu trữ năng lượng và quang điện, vẫn thể hiện sức bền, có thể phần nào bù đắp cho mùa thấp điểm của phôi định hình xây dựng. Thứ tư, nếu giá nhôm có nhịp thoái lui theo giai đoạn, điều này có thể kích thích người mua hạ nguồn bổ sung hàng ở mức giá thấp, qua đó thúc đẩy phí gia công phục hồi.
Quan điểm SMM:Trong ngắn hạn, phí gia công phôi thanh nhôm đã rơi vào kênh chịu áp lực theo giai đoạn. Phí gia công đối với các quy cách chính như φ120 tại Phật Sơn đã thoái lui từ mức cao trước đó xuống vùng giá thành 250-300 nhân dân tệ/tấn, một số hàng giá thấp thậm chí còn xuống dưới giới hạn dưới của đường giá vốn. Dư địa để giảm sâu thêm bị hạn chế do ràng buộc chi phí, nhưng động lực giữ giá ổn định và phục hồi cũng không đủ. Trong tuần tới, phí gia công tại các khu vực dự kiến sẽ duy trì xu hướng phân hóa. Ở Hoa Nam, dưới áp lực cung-cầu vẫn còn dư địa giảm, và một số hàng giá thấp có thể tiếp tục giao dịch dưới mức giá thành. Tại Vô Tích, nhờ nguồn cung phôi nhỏ khan hiếm hỗ trợ, phí gia công tương đối khó giảm sâu, nhưng phôi kích cỡ lớn cũng chịu áp lực điều chỉnh. Nhìn chung, phí gia công nhiều khả năng sẽ dao động ở mức thấp quanh đường giá vốn. Sự ổn định ý nghĩa và phục hồi bền vững sẽ cần tín hiệu giảm tồn kho trở lại, lượng xuất kho phục hồi và cải thiện đáng kể đơn hàng từ người tiêu dùng cuối cùng.

Kết luận:Hiện tại, phí gia công phôi nhôm đã giảm xuống sát đường giá thành sản xuất 250-300 nhân dân tệ/tấn. Giá trung bình φ120 tại Phật Sơn vào ngày 24 tháng 7 đã giảm còn 270 nhân dân tệ/tấn, một số lô hàng giá thấp thậm chí đã phá vỡ mức giá thành. Về mặt lý thuyết, yếu tố chi phí sẽ hạn chế dư địa giảm thêm, nhưng trong bối cảnh nhu cầu mùa thấp điểm yếu, quá trình chuyển từ giảm tồn kho sang tích trữ, và lượng hàng lưu thông gia tăng ở miền Nam Trung Quốc, phí gia công khó có thể giữ vững. Trong ngắn hạn, giá có thể dao động ở mức thấp, tập trung vào tốc độ hàng về và tiêu thụ ở miền Nam Trung Quốc, sức mua của hạ nguồn, và những thay đổi biên về đơn hàng trong lĩnh vực đùn ép nhôm công nghiệp.
Nguồn dữ liệu: SMM



