Báo cáo Thép toàn cầu hằng ngày SMM 8.14
[Việt Nam] Thị trường thép đi ngang trước thềm các quyết định chính sách
Thị trường thép Việt Nam giao dịch đi ngang, người tham gia đứng ngoài chờ các quyết định chính sách tiếp theo. Thép xây dựng giữ ở mức khoảng 531 USD/tấn EXW và HRC ở mức khoảng 515-522 USD/tấn CFR Thành phố Hồ Chí Minh, tâm lý mua thận trọng khiến biến động giá bị hạn chế. Các bên tham gia đang theo dõi sát tỷ giá. Thị trường cũng đang chờ quyết định cuối cùng của Chính phủ Việt Nam về cơ chế thuế mới đối với các sản phẩm khoáng sản, trong đó có quặng sắt. Cho đến khi chính sách tiền tệ và thuế rõ ràng hơn, cả người mua và người bán dự kiến vẫn thận trọng, ít dư địa cho biến động giá mạnh trong ngắn hạn.
[Indonesia] Giá HRC Indonesia giữ ổn định, không thay đổi
Giá thép cuộn dây và phôi nhích lên, nhưng HRC giữ nguyên ở mức khoảng 510 USD/tấn FOB. Nguyên nhân chủ yếu do lượng hỏi hàng không đủ và cầu tổng thể yếu, người mua chuyển sang các nguồn thay thế có giá cạnh tranh hơn như Ấn Độ, Trung Quốc và Việt Nam. Bất chấp áp lực này, các nhà máy Indonesia vẫn chưa muốn giảm thêm giá chào do chịu sức ép từ chi phí sản xuất và các chi phí liên quan liên tục ở mức cao.
[Ấn Độ] Điều chỉnh nguồn cung hỗ trợ HRC và thép dài khi giá thép Ấn Độ tăng
Giá thép Ấn Độ tăng, với chỉ số phế liệu sắt thép nội địa tăng 2 USD/tấn (200 rupee Ấn Độ/tấn) so với ngày trước. Phôi tại Mandi Gobindgarh tăng 3 USD/tấn (250 rupee Ấn Độ/tấn) lên 445 USD/tấn (42.500 rupee Ấn Độ/tấn), và thép cây 12 mm tăng 3 USD/tấn (300 rupee Ấn Độ/tấn) lên 495 USD/tấn (47.200 rupee Ấn Độ/tấn). Phôi Raipur tăng lên 404 USD/tấn (38.600 rupee Ấn Độ/tấn) và thép cây tăng lên 425 USD/tấn (40.600 rupee Ấn Độ/tấn). Nhờ điều chỉnh nguồn cung tại các nhà máy lớn, giá HRC nội địa Ấn Độ tăng khoảng 1-8 USD/tấn (100-800 rupee Ấn Độ/tấn) so với tuần trước.