SMM 24/7/2026:
Vào tháng 6/2026, xuất khẩu tấm và dải nhôm của Trung Quốc đạt 354.000 tấn, tăng 10,6% so với tháng trước, lập mức cao kỷ lục tháng mới cho nửa đầu năm 2026. Tổng xuất khẩu lũy kế tấm và dải nhôm đạt 1,7891 triệu tấn trong tháng 1-6. Theo điểm đến, Mexico dẫn đầu với 45.300 tấn, tăng vọt 46,4% so với tháng trước; xuất khẩu sang Mỹ giảm 29,2% so với tháng trước xuống còn 26.100 tấn. Theo tỉnh, Hà Nam và Sơn Đông cùng chiếm hơn 43% tổng lượng, tiếp tục dẫn đầu cả nước. Về cơ cấu sản phẩm, xuất khẩu tấm hợp kim nhôm dày 0,2-0,28 mm (chủ yếu là tấm làm lon) đạt 153.700 tấn, chiếm 43,5% tổng lượng, và tiếp tục thống trị thị trường xuất khẩu. Đáng chú ý, các nhà máy cán hàng đầu Bắc Mỹ bắt đầu khôi phục dây chuyền sản xuất vào tháng 6, và các đơn hàng chuyển dịch trước đó đã dần được thu hồi. Cơn sốt xuất khẩu nửa đầu năm do hiệu ứng chuyển dịch đơn hàng dự kiến sẽ chịu áp lực sụt giảm đáng kể vào nửa cuối năm.
Theo số liệu hải quan, xuất khẩu tấm và dải nhôm của Trung Quốc đạt 354.000 tấn trong tháng 6/2026. So với tháng trước, xuất khẩu tháng 6 tăng 10,6% từ mức 319.900 tấn của tháng 5, đánh dấu tháng thứ tư liên tiếp vượt 300.000 tấn.
Nhìn lại nửa đầu năm 2026, xuất khẩu tấm và dải nhôm hàng tháng thể hiện xu hướng "thấp rồi cao": xuất khẩu đạt 278.600 tấn vào tháng 1, giảm xuống 230.800 tấn vào tháng 2 do ảnh hưởng của kỳ nghỉ Tết Nguyên đán – mức thấp nhất của nửa đầu năm; phục hồi lên 278.200 tấn vào tháng 3, tăng vọt lên 327.800 tấn vào tháng 4, giảm nhẹ xuống 319.900 tấn vào tháng 5, rồi lại tăng mạnh lên 354.000 tấn vào tháng 6. Tổng xuất khẩu lũy kế tháng 1-6 đạt 1,7891 triệu tấn.

Về cơ cấu sản phẩm, xuất khẩu tấm và dải nhôm tháng 6 chủ yếu là tấm hợp kim nhôm. Trong đó, xuất khẩu tấm hợp kim nhôm hình chữ nhật dày 0,2-0,28 mm (chủ yếu là tấm làm lon) đạt 153.700 tấn, chiếm 43,5% tổng xuất khẩu tháng 6 và tăng 14,6% so với tháng trước, là động lực tăng trưởng xuất khẩu lớn nhất trong tháng 6.
Theo điểm đến, Mexico đứng đầu với 45.300 tấn trong tháng 6, tăng vọt 46,4% so với tháng trước và chiếm 12,8% tổng xuất khẩu của tháng. Mỹ đứng thứ hai với 26.100 tấn, nhưng giảm 29,2% so với tháng trước (so với mức 36.900 tấn của tháng 5), mức giảm lớn nhất trong số 10 điểm đến hàng đầu. Sự thay đổi này liên quan đến việc khôi phục dây chuyền sản xuất tại các nhà máy cán hàng đầu Bắc Mỹ trong tháng 6, khi hiệu ứng chuyển hướng đơn hàng đối với nhôm tấm làm vỏ lon và tấm ô tô do gián đoạn sản xuất từ hỏa hoạn trước đó đang mờ dần. Thị trường Đông Nam Á có hiệu suất mạnh mẽ: Việt Nam (26.000 tấn), Thái Lan (17.200 tấn), Indonesia (11.700 tấn) và Malaysia (11.100 tấn) cùng chiếm 66.000 tấn xuất khẩu, tương đương 18,6% tổng xuất khẩu tháng. Là thị trường cốt lõi truyền thống của xuất khẩu nhôm tấm/dải, Đông Nam Á duy trì nhu cầu mạnh. Ngoài ra, các thị trường như Anh (14.200 tấn, tăng 42,1% so tháng trước), Brazil (11.900 tấn, tăng 45,2%), Úc (12.700 tấn, tăng 25,4%) và Campuchia (9.300 tấn, tăng 30,3%) đều ghi nhận mức tăng trưởng đáng kể, cho thấy cơ sở nhu cầu toàn cầu đang mở rộng cho nhôm tấm/dải Trung Quốc.

Xét về xuất khẩu theo nơi đăng ký xuất xứ, tỉnh Hà Nam dẫn đầu với 83.000 tấn, tăng 12,9% so tháng trước, chiếm 23,5% tổng xuất khẩu tháng. Nửa đầu năm, xuất khẩu lũy kế của Hà Nam đạt 423.600 tấn, chiếm 23,7% tổng toàn quốc. Tỉnh Sơn Đông theo sau, xuất khẩu 70.700 tấn trong tháng 6, tăng 10,2% so tháng trước, chiếm 20,0%.
Từ cuối tháng 6, tỷ giá SHFE/LME phục hồi nhanh, đột ngột đóng cánh cửa kinh doanh chênh lệch vốn thúc đẩy xuất khẩu bán thành phẩm nhôm ồ ạt. Khi hiệu ứng chuyển hướng đơn hàng mờ dần, đơn hàng mới ở một số phân khúc bắt đầu suy giảm. Tuy nhiên, các đơn hàng giá cố định đã nhận vẫn đang được thực hiện theo kế hoạch. Xuất khẩu nhôm tấm/dải dự kiến giảm dần từ tháng 7, với xuất khẩu trung bình nửa cuối năm lui về khoảng 280.000-320.000 tấn. Kết hợp với hiệu suất mạnh nửa đầu năm, xuất khẩu cả năm vẫn được dự báo phục hồi lên 3,3-3,4 triệu tấn.


