Theo số liệu hải quan, xuất khẩu tấm và dải nhôm của Trung Quốc đạt 354.000 tấn trong tháng 6 năm 2026. So với tháng trước, xuất khẩu tăng 10,6% từ mức 319.900 tấn của tháng 5, duy trì trên 300.000 tấn tháng thứ tư liên tiếp.
Nhìn lại nửa đầu năm 2026, xuất khẩu hàng tháng cho thấy xu hướng thấp trước cao sau: tháng 1 đạt 278.600 tấn; tháng 2 giảm còn 230.800 tấn do Tết Nguyên đán, mức thấp nhất trong nửa đầu năm; tháng 3 phục hồi lên 278.200 tấn; tháng 4 vọt lên 327.800 tấn; sau khi giảm nhẹ còn 319.900 tấn vào tháng 5, tháng 6 lại tăng vọt lên 354.000 tấn. Tổng xuất khẩu lũy kế từ tháng 1 đến tháng 6 đạt 1,7891 triệu tấn.

Theo cơ cấu sản phẩm, tấm hợp kim nhôm chiếm ưu thế trong xuất khẩu tháng 6. Cụ thể, xuất khẩu tấm hợp kim nhôm chữ nhật độ dày 0,2-0,28 mm (chủ yếu là nhôm làm vỏ lon) đạt 153.700 tấn, chiếm 43,5% tổng xuất khẩu và tăng 14,6% so với tháng trước, đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng xuất khẩu tháng 6.
Theo điểm đến, Mexico dẫn đầu trong tháng 6 với 45.300 tấn, tăng vọt 46,4% so với tháng trước và chiếm thị phần 12,8%. Mỹ đứng thứ hai với 26.100 tấn, nhưng giảm 29,2% so với tháng trước (so với 36.900 tấn của tháng 5), mức giảm lớn nhất trong 10 điểm đến hàng đầu. Thay đổi này gắn với việc nhà máy cán hàng đầu Bắc Mỹ nối lại sản xuất từ tháng 6, khi hiệu ứng chuyển dịch đơn hàng đối với nhôm làm vỏ lon và tấm thân ô tô do sự cố hỏa hoạn trước đó gây gián đoạn đang suy yếu. Đông Nam Á tăng trưởng mạnh: tổng xuất khẩu sang Việt Nam (26.000 tấn), Thái Lan (17.200 tấn), Indonesia (11.700 tấn) và Malaysia (11.100 tấn) đạt 66.000 tấn, chiếm 18,6% tổng lượng xuất khẩu trong tháng. Là thị trường cốt lõi truyền thống cho xuất khẩu các sản phẩm nhôm tấm, lá và băng, Đông Nam Á duy trì nhu cầu vững chắc. Ngoài ra, các thị trường như Anh (14.200 tấn, +42,1%), Brazil (11.900 tấn, +45,2%), Úc (12.700 tấn, +25,4%) và Campuchia (9.300 tấn, +30,3%) ghi nhận mức tăng đáng kể so với tháng trước, phản ánh nhu cầu toàn cầu mở rộng đối với các sản phẩm nhôm tấm, lá, băng của Trung Quốc.
Theo tỉnh xuất khẩu, Hà Nam đứng đầu với 83.000 tấn, tăng 12,9% so với tháng trước, chiếm 23,5% tổng lượng trong tháng. Trong nửa đầu năm, tổng xuất khẩu của Hà Nam đạt 423.600 tấn, chiếm 23,7% cả nước. Sơn Đông theo sau với 70.700 tấn trong tháng 6, tăng 10,2% so với tháng trước và giữ 20,0% thị phần.
Kể từ cuối tháng 6, tỷ lệ giá SHFE/LME đã hồi phục nhanh, nhanh chóng đóng chặt cơ hội kinh doanh chênh lệch giá vốn đã thúc đẩy xuất khẩu bán thành phẩm nhôm quy mô lớn. Trong khi đó, với hiệu ứng dịch chuyển đơn hàng dần mờ nhạt, đơn hàng mới ở một số phân khúc đã giảm. Tuy nhiên, các đơn hàng giá cố định trước đó vẫn đang thực hiện theo kế hoạch. Xuất khẩu dự kiến sẽ giảm dần từ tháng 7, với mức trung bình hàng tháng nửa cuối năm có thể giảm xuống khoảng 280.000-320.000 tấn. Xét đến kết quả mạnh mẽ nửa đầu năm, xuất khẩu cả năm vẫn có khả năng hồi phục lên 3,3-3,4 triệu tấn.


![Xuất khẩu thép tấm và thép dải tháng 6 đạt mức cao kỷ lục mới theo tháng trong năm, trong khi sự phục hồi của các đơn hàng chuyển giao có thể gây áp lực điều chỉnh trong nửa cuối năm [Phân tích SMM]](https://imgqn.smm.cn/usercenter/hRRxy20251217171652.jpg)
