[SMM Phân tích] Sản xuất axit sulfuric và nhập khẩu/xuất khẩu lưu huỳnh/axit sulfuric của Trung Quốc trong nửa đầu năm 2026

Đã xuất bản: Jul 23, 2026 18:47
Trong nửa đầu năm 2026, thị trường lưu huỳnh của Trung Quốc đã trải qua chuỗi truyền tải đầy đủ ‘suy yếu nhập khẩu – áp lực sản xuất – xuất khẩu đình trệ’. Các số liệu chính: Sản xuất: Sản lượng axit sunfuric quốc gia từ tháng 1-5 giảm 1,6% so với cùng kỳ, với sự sụt giảm đáng kể ở các tỉnh sản xuất phân lân truyền thống như Hồ Bắc, Quý Châu và Vân Nam, trong khi An Huy và các khu vực tập trung axit từ luyện kim khác lại chứng kiến sự tăng trưởng. Xuất khẩu: Xuất khẩu axit sunfuric thực tế đã bị đình chỉ vào tháng 6......

– Dựa trên dữ liệu từ Cục Thống kê Quốc gia và Hải quan Trung Quốc

    Trong nửa đầu năm 2026, nhập khẩu lưu huỳnh của Trung Quốc sụt giảm mạnh dưới tác động của xung đột địa chính trị, lệnh cấm xuất khẩu và gián đoạn hậu cần, trong khi sản xuất axit sunfuric trong nước chịu áp lực và xuất khẩu axit sunfuric gần như ngừng trệ vào tháng 6 do các biện pháp chính sách. Phân tích dưới đây bao gồm bốn khía cạnh: giá cả, sản xuất, thương mại lưu huỳnh và thương mại axit sunfuric.

1. Giá cả: Lưu huỳnh tăng vọt rồi hạ nhiệt, axit sunfuric theo sau với độ trễ

    Trong nửa đầu năm 2026, giá lưu huỳnh SMM (giá xuất xưởng Sơn Đông) bắt đầu năm ở mức 4.180 NDT/tấn và trải qua năm giai đoạn: khởi đầu ôn hòa, bước ngoặt vào tháng 3, tăng tốc vào tháng 4–5, đạt đỉnh vào tháng 6, và thoái lui vào tháng 7. Trong tháng 1–2, giá dao động trong biên độ hẹp 4.000–4.200 NDT/tấn. Sang tháng 3, khi căng thẳng địa chính trị bùng nổ hoàn toàn, giá nhảy vọt từ 4.150 NDT/tấn lên 6.090 NDT/tấn, tăng gần 2.000 NDT/tấn chỉ trong một tháng. Xu hướng tăng tiếp diễn trong tháng 4–5, với mặt bằng giá dịch chuyển lên 6.500–7.800 NDT/tấn. Tháng 6 chứng kiến điều kiện cực đoan, giá chạm mức cao nhất mọi thời đại 10.353,5 NDT/tấn vào ngày 16/6, tăng 148% so với đầu năm. Giá hạ nhiệt phần nào trong tháng 7, đóng cửa ở mức 9.428,5 NDT/tấn vào ngày 23/7, thấp hơn đỉnh khoảng 1.000 NDT/tấn.

    Chỉ số axit luyện đồng SMM tăng dần từ mức 919,5 NDT/tấn đầu năm. Tháng 1–2 dao động hẹp trong khoảng 900–960 NDT/tấn. Tháng 3 tăng nhanh lên 1.235,5 NDT/tấn sau đà tăng của lưu huỳnh, rồi tiếp tục tăng lên 1.657 NDT/tấn trong tháng 4. Tháng 5–6 duy trì ở vùng giá cao 1.650–1.750 NDT/tấn, chạm thoáng qua 1.789 NDT/tấn vào đầu tháng 7, sau đó giảm nhẹ xuống 1.763 NDT/tấn vào ngày 17/7. Axit sunfuric tăng khoảng 92%, chưa bằng một nửa mức tăng của lưu huỳnh, phản ánh lợi thế chi phí của axit luyện kim so với axit đốt lưu huỳnh – biến động giá lưu huỳnh mạnh đã không truyền tải tương xứng sang phía axit.

2. Sản xuất: Sản lượng toàn quốc giảm 1,6% so với cùng kỳ, phân hóa vùng miền gia tăng

    Theo Cục Thống kê Quốc gia, sản lượng axit sunfuric lũy kế của Trung Quốc (quy đổi 100% H₂SO₄) trong tháng 1–5 năm 2026đạt 44,293 triệu tấn, giảm 1,6% so với cùng kỳ. Tốc độ tăng trưởng lũy kế giảm từ 6,2% trong tháng 3 xuống -2,2% trong tháng 4 và -1,6% trong tháng 5, cho thấy sự suy yếu rõ rệt ở biên. Dựa trên số liệu hàng tháng, sản lượng tháng 5khoảng 7,216 triệu tấn, giảm khoảng 19,4% so với cùng tháng năm ngoái, phản ánh sức cản kéo dài từ chi phí nguyên liệu đầu vào cao đối với sản xuất axit.

    Theo khu vực, năm tỉnh dẫn đầu là Vân Nam (6,6809 triệu tấn), Sơn Đông (3,665 triệu tấn), An Huy (3,5935 triệu tấn), Quý Châu (2,9048 triệu tấn) và Hồ Bắc (2,7395 triệu tấn). An Huy hưởng lợi từ công suất axit luyện mới, ghi nhận mức tăng 20% so với cùng kỳ – mức tăng lớn nhất trong các tỉnh. Hồ Bắc giảm mạnh 53% so với cùng kỳ, sản lượng gần như giảm một nửa, chủ yếu do tỷ lệ vận hành phân lân duy trì ở mức thấp và ngừng hoạt động bảo trì. Vân Nam giảm nhẹ 0,7%, trong khi Quý Châu giảm 6,8%, phản ánh sự truyền dẫn của nhu cầu phân lân yếu đến sản xuất axit thượng nguồn. Nội Mông, Tứ Xuyên và Giang Tây có mức thay đổi tương đối nhỏ.

    Sự phân hóa vùng miền phản ánh khác biệt về năng lực cạnh tranh chi phí giữa các lộ trình sản xuất. Với giá lưu huỳnh ở mức cao lịch sử, axit luyện kim (đồng sản phẩm từ luyện đồng và kẽm) có lợi thế chi phí rõ rệt so với axit đốt lưu huỳnh. Các tỉnh có trung tâm luyện đồng lớn như An Huy chứng kiến sản lượng tăng trưởng, trong khi các khu vực có tỷ trọng công suất axit đốt lưu huỳnh cao – đặc biệt liên quan đến sản xuất phân lân (Hồ Bắc, Quý Châu, Vân Nam) – chịu cắt giảm sản lượng dưới áp lực chi phí.

3. Thương mại lưu huỳnh: Tổng nhập khẩu giảm một nửa, nguồn cung định hình lại

    Dữ liệu hải quan cho thấy nhập khẩu lưu huỳnh tự nhiên của Trung Quốc trong tháng 1–6 năm 2026 lần lượt là 497.200 tấn, 538.100 tấn, 516.300 tấn, 295.500 tấn, 268.300 tấn và 147.000 tấn, tổng cộng khoảng 2,262 triệu tấn trong nửa đầu năm. Trên cơ sở tổng hợp bao gồm cả lưu huỳnh tinh chế, con số so sánh cùng kỳ năm 2025 là khoảng 5,345 triệu tấn, đồng nghĩa mức giảm so với cùng kỳ khoảng 57,7% trong năm 2026. Mức độ sụt giảm tăng tốc qua từng tháng: nhập khẩu trung bình tháng 1–3 khoảng 517.000 tấn, nhưng tháng 4 chứng kiến mức giảm 43% so với tháng trước, và tháng 5–6 tiếp tục giảm xuống còn khoảng 200.000 tấn. Con số 147.000 tấn của tháng 6 nằm trong số các tổng nhập khẩu tháng đơn lẻ thấp nhất những năm gần đây.

    Cơ cấu nguồn nhập khẩu thay đổi căn bản. So sánh tháng 1 và tháng 6: tổng nhập khẩu từ năm quốc gia Trung Đông (UAE, Ả Rập Xê Út, Kuwait, Qatar, Oman) giảm từ 202.500 tấn xuống 7.700 tấn, và thị phần của họ giảm từ 40,7% xuống 5,2%, khiến nguồn cung Trung Đông hầu như bằng không. Canada tăng thị phần từ 97.300 tấn (tháng 1) lên 57.600 tấn (tháng 6), chiếm 39,2% tổng lượng tháng đó, trở thành nhà cung cấp lớn nhất trong tháng 6. Trong nửa đầu năm, Canada xuất khẩu khoảng 341.200 tấn sang Trung Quốc, chiếm 15% tổng nhập khẩu. Hàn Quốc giảm dần xuất khẩu sang Trung Quốc từ 118.500 tấn (tháng 1) xuống 43.300 tấn (tháng 6) nhưng duy trì sự hiện diện ổn định. Kazakhstan không có xuất khẩu trong tháng 1–5 và chỉ xuất 3.100 tấn trong tháng 6.

    Đối với lưu huỳnh tinh chế (độ tinh khiết ≥99,95%), tổng nhập khẩu nửa đầu năm khoảng 363,9 tấn, trong đó Canada chiếm khoảng 77%. Xuất khẩu lưu huỳnh tinh chế tăng vọt trong tháng 5–6 (lần lượt 160 tấn và 121,2 tấn), cho thấy một phần vật liệu tinh chế đã được chuyển hướng sang thị trường nước ngoài để có biên lợi nhuận cao hơn trong bối cảnh nguồn cung lưu huỳnh tự nhiên thắt chặt và giá trong nước cao.

    Sự sụt giảm hàng tháng của nhập khẩu lưu huỳnh tự nhiên phản ánh đà tăng dần của giá lưu huỳnh trong nước: khi nhập khẩu duy trì trên 500.000 tấn/tháng (tháng 1–3), giá nội địa dao động trong khoảng 4.000–6.000 NDT/tấn; khi nhập khẩu giảm xuống 295.500 tấn (tháng 4), giá phá vỡ ngưỡng 6.500 NDT/tấn; khi nhập khẩu giảm còn khoảng 200.000 tấn (tháng 5–6), giá tăng vọt lên 7.500–7.800 NDT/tấn rồi vượt ngưỡng 10.000 NDT/tấn. Nguồn cung nhập khẩu thắt chặt là động lực cơ bản then chốt đằng sau cú sốc giá trong nước.

4. Thương mại axit sunfuric: Nhập khẩu không đáng kể, xuất khẩu giảm về không trong tháng 6

    Nhập khẩu axit sunfuric của Trung Quốc duy trì ở mức cực thấp trong nửa đầu năm 2026: lần lượt 17.200 tấn, 9.400 tấn, 900 tấn, 17.100 tấn, 900 tấn và 17.900 tấn, trung bình chưa đến 12.000 tấn/tháng – hầu như không đáng kể so với sản lượng nội địa hàng tháng xấp xỉ 7 triệu tấn, do đó không tác động đến cung/cầu hay giá trong nước.

    Về phía xuất khẩu, mô hình là "tăng cao rồi sụp đổ". Xuất khẩu đạt đỉnh 242.500 tấn vào tháng 1, sau đó duy trì trong khoảng 116.000–143.000 tấn (tháng 2–5, trung bình ~135.000 tấn/tháng), trước khi lao dốc xuống 980,12 tấn vào tháng 6 – mức giảm hơn 99% so với tháng trước, gần như ngừng trệ. Sự sụt giảm mạnh là kết quả trực tiếp từ việc chính thức đình chỉ xuất khẩu axit sunfuric thông thường có hiệu lực từ ngày 1/5, với hiệu ứng đầy đủ thể hiện rõ trong tháng 6.

    Về điểm đến, trong tháng 1–5 các nước nhận chính là Chile (tổng 295.300 tấn, 37,7% tổng lượng cả kỳ), Indonesia (~219.300 tấn), Ấn Độ (~99.600 tấn trong quý 1), và Ả Rập Xê Út (~101.500 tấn trong tháng 2–4). Tất cả các điểm đến chính đều không có xuất khẩu trong tháng 6.

    Trong nửa đầu năm, hồ sơ thương mại axit sunfuric của Trung Quốc là "nhập khẩu không đáng kể cộng với xuất khẩu ngừng sau khởi đầu mạnh mẽ". Xuất khẩu lũy kế tháng 1–5 khoảng 784.000 tấn, trung bình 157.000 tấn/tháng, đưa Trung Quốc thành nước xuất siêu. Việc ngừng xuất khẩu tháng 6 đồng nghĩa khoảng 100.000–150.000 tấn axit mỗi tháng lẽ ra xuất ra thị trường nước ngoài đã bị ép quay lại thị trường nội địa, gây áp lực nhất định lên các thị trường ven biển; tuy nhiên, so với sản lượng hàng tháng toàn quốc khoảng 7 triệu tấn, tác động lên cân bằng cung cầu tổng thể là có thể kiểm soát được.

5. Tổng kết

    Trong nửa đầu năm 2026, thị trường lưu huỳnh Trung Quốc trải qua chuỗi truyền dẫn toàn phần "sụp đổ nhập khẩu – áp lực sản xuất – ngưng trệ xuất khẩu". Các con số chính:

  • Nhập khẩu: Nhập khẩu lưu huỳnh tự nhiên giảm từ 497.200 tấn (tháng 1) xuống 147.000 tấn (tháng 6). Trên cơ sở tổng hợp lưu huỳnh tự nhiên và tinh chế, nhập khẩu giảm khoảng 57,7% so với cùng kỳ, thị phần Trung Đông thu hẹp từ gần 40% xuống 5%.
  • Sản xuất: Sản lượng axit sunfuric toàn quốc tháng 1–5 giảm 1,6% so với cùng kỳ, sụt giảm đáng kể tại các tỉnh sản xuất phân lân truyền thống như Hồ Bắc, Quý Châu và Vân Nam, trong khi An Huy và các khu vực tập trung axit luyện kim khác tăng trưởng.
  • Xuất khẩu: Xuất khẩu axit sunfuric hầu như ngừng trệ trong tháng 6, đưa khoảng 100.000–150.000 tấn/tháng quay lại thị trường nội địa.
  • Giá cả: Lưu huỳnh tăng vọt từ 4.180 NDT/tấn đầu năm lên đỉnh 10.353,5 NDT/tấn vào tháng 6, trong khi chỉ số axit luyện đồng tăng khoảng 92%.

    Nhìn về nửa cuối năm, diễn biến tại eo biển Hormuz và tốc độ mở rộng công suất lưu huỳnh vẫn là các biến số cốt lõi quyết định hướng đi của nguồn cung và giá lưu huỳnh. Nếu áp lực phía cung tiếp diễn, thị trường lưu huỳnh nội địa thắt chặt khó có thể đảo chiều trong ngắn hạn, và ngành axit sunfuric sẽ tiếp tục đối mặt với mô hình biến động vùng giá cao "chi phí đẩy – nhu cầu chấp nhận yếu". Phân hóa vùng miền sẽ kéo dài – các khu vực tập trung axit luyện kim có khả năng duy trì lợi thế tương đối, trong khi các khu vực phụ thuộc vào axit đốt lưu huỳnh mua ngoài sẽ tiếp tục chịu áp lực chi phí đáng kể.

Tuyên bố về Nguồn Dữ liệu: Ngoại trừ thông tin công khai, tất cả dữ liệu khác được SMM xử lý dựa trên thông tin công khai, giao tiếp thị trường và dựa trên mô hình cơ sở dữ liệu nội bộ của SMM. Chúng chỉ mang tính chất tham khảo và không cấu thành khuyến nghị ra quyết định.

Để biết thêm thông tin hoặc có thắc mắc gì, vui lòng liên hệ: lemonzhao@smm.cn
Để biết thêm thông tin về cách truy cập báo cáo nghiên cứu, vui lòng liên hệ:service.en@smm.cn
Tin Liên Quan
[SMM Flash] SADC được kêu gọi chuyển từ xuất khẩu khoáng sản thô sang chế biến, lệnh cấm xuất khẩu lithium của Zimbabwe được nêu làm hình mẫu
2 giờ trước
[SMM Flash] SADC được kêu gọi chuyển từ xuất khẩu khoáng sản thô sang chế biến, lệnh cấm xuất khẩu lithium của Zimbabwe được nêu làm hình mẫu
Đọc thêm
[SMM Flash] SADC được kêu gọi chuyển từ xuất khẩu khoáng sản thô sang chế biến, lệnh cấm xuất khẩu lithium của Zimbabwe được nêu làm hình mẫu
[SMM Flash] SADC được kêu gọi chuyển từ xuất khẩu khoáng sản thô sang chế biến, lệnh cấm xuất khẩu lithium của Zimbabwe được nêu làm hình mẫu
Tổng thư ký điều hành Ủy ban Kinh tế Liên Hợp Quốc về châu Phi (UNECA), ông Claver Gatete, đã kêu gọi Cộng đồng Phát triển miền Nam châu Phi (SADC) chuyển từ xuất khẩu khoáng sản thô sang chế biến tại chỗ và gia tăng giá trị, coi khu vực này là “bãi thử” cho chiến lược khoáng sản rộng hơn của châu Phi. Theo các kịch bản phát thải ròng bằng 0, nhu cầu đối với các khoáng sản then chốt cho chuyển dịch năng lượng, bao gồm lithium, có thể tăng hơn gấp ba vào năm 2030; châu Phi nắm khoảng 30% trữ lượng toàn cầu nhưng chỉ chiếm 1% sản lượng lithium, mức thấp nhất trong các khoáng sản được nêu. Zimbabwe được nêu tên là quốc gia nắm giữ nguồn tài nguyên lithium chủ chốt của SADC, bên cạnh CHDC Congo (coban), Nam Phi (bạch kim, mangan) và Zambia (đồng); ông Gatete cho rằng lệnh cấm xuất khẩu lithium chưa qua chế biến của Zimbabwe là mô hình chính sách cho khu vực. Khoáng sản đóng góp khoảng 10% GDP của SADC, 25% kim ngạch xuất khẩu và 20% nguồn thu ngân sách, nhưng chỉ tạo ra 7% việc làm trực tiếp. Quan điểm SMM: Nhận định của Gatete củng cố sức nặng chính sách ở cấp khu vực cho nỗ lực đẩy mạnh chế biến sâu của Zimbabwe, tăng cường cơ sở lý giải cho lệnh cấm xuất khẩu tinh quặng khi năng lực sản xuất sunfat trong nước bắt đầu đi vào hoạt động
2 giờ trước
Nhà máy Lithium Sulfate Bikita của Sinomine khởi công, đặt mục tiêu hoàn thành năm 2027 trong bối cảnh Zimbabwe thúc đẩy lệnh cấm xuất khẩu.
3 giờ trước
Nhà máy Lithium Sulfate Bikita của Sinomine khởi công, đặt mục tiêu hoàn thành năm 2027 trong bối cảnh Zimbabwe thúc đẩy lệnh cấm xuất khẩu.
Đọc thêm
Nhà máy Lithium Sulfate Bikita của Sinomine khởi công, đặt mục tiêu hoàn thành năm 2027 trong bối cảnh Zimbabwe thúc đẩy lệnh cấm xuất khẩu.
Nhà máy Lithium Sulfate Bikita của Sinomine khởi công, đặt mục tiêu hoàn thành năm 2027 trong bối cảnh Zimbabwe thúc đẩy lệnh cấm xuất khẩu.
Công ty con tại Zimbabwe của Sinomine Resource Group, Masingo Lithium Technology, đã nhận được phê duyệt đánh giá tác động môi trường (ĐTM) cho nhà máy liti sunfat công suất 100.000 tấn/năm tại Bikita, đưa dự án vào giai đoạn xây dựng toàn diện với các nhà thầu China Railway No. 9 Group và Shandong Dadi đã có mặt tại công trường. Mục tiêu hoàn thành vào giữa năm 2027. Việc phê duyệt này chính thức hóa kế hoạch lần đầu được công bố vào tháng 9/2024 và được tái khẳng định qua đợt huy động vốn 5,2 tỷ nhân dân tệ (764 triệu USD) của Sinomine vào tháng 5/2026, thay vì báo hiệu một cam kết vốn mới. Bikita trở thành dự án liti sunfat thứ ba có vốn Trung Quốc tại Zimbabwe, bên cạnh nhà máy Arcadia công suất 50.000 tấn/năm của Huayou đi vào vận hành từ tháng 7/2026, hoạt động ở mức gần 60% công suất tính đến cuối tháng 7, và cơ sở Kamativi của Yahua khởi công vào tháng 2/2026 với công suất chưa được tiết lộ. Tổng công suất công bố của cả ba dự án đạt trên 200.000 tấn/năm khi hoàn tất, trước lệnh cấm xuất khẩu tinh quặng của Zimbabwe vào tháng 1/2027. Nhận định của SMM: Việc tăng công suất của Arcadia chậm hơn công suất thiết kế là thước đo chính ở đây; nếu Bikita đi theo lộ trình tương tự với công suất gấp đôi, sản lượng đầy đủ có thể lùi sang năm 2028 dù thời điểm hoàn thành là giữa năm 2027. Khi cả ba nhà máy đã vượt qua giai đoạn khởi công, nỗ lực thúc đẩy chế biến quặng của Zimbabwe đã chuyển từ chính sách sang xây dựng thực tế; tín hiệu tiếp theo cần theo dõi là lệnh cấm xuất khẩu được thực thi nghiêm ngặt như thế nào so với tiến độ vận hành thực tế của từng nhà máy, chứ không chỉ so với tiến độ công bố.
3 giờ trước
[Tin nhanh SMM] Savannah Resources đạt được các thỏa thuận tiếp cận đất đai cho Dự án Lithium Barroso tại Bồ Đào Nha.
3 giờ trước
[Tin nhanh SMM] Savannah Resources đạt được các thỏa thuận tiếp cận đất đai cho Dự án Lithium Barroso tại Bồ Đào Nha.
Đọc thêm
[Tin nhanh SMM] Savannah Resources đạt được các thỏa thuận tiếp cận đất đai cho Dự án Lithium Barroso tại Bồ Đào Nha.
[Tin nhanh SMM] Savannah Resources đạt được các thỏa thuận tiếp cận đất đai cho Dự án Lithium Barroso tại Bồ Đào Nha.
Savannah Resources (LON:SAV) đã ký ba thỏa thuận chia sẻ lợi ích với các baldios địa phương (tổ chức đất cộng đồng) quanh dự án lithium Barroso ở phía bắc Bồ Đào Nha, qua đó đảm bảo quyền tiếp cận đất tại Khối A và C của khu khai thác Aldeia, nơi có tài nguyên 3,5 triệu tấn và trữ lượng 1,6 triệu tấn. Các thỏa thuận trao cho cộng đồng quyền tham gia giám sát dự án, tái đầu tư lợi ích tại địa phương và bồi thường tiền thuê theo chỉ số lạm phát. Công ty cũng đang đẩy nhanh việc thu mua đất tư nhân và chuẩn bị thủ tục trưng mua đối với các thửa đất còn lại. Giám đốc điều hành Emanuel Proença cho biết các thỏa thuận này phản ánh cam kết của công ty trong việc gắn kết với cộng đồng. Barroso là một trong những dự án lithium đá cứng tiên tiến nhất châu Âu, hỗ trợ nỗ lực của EU nhằm bảo đảm nguồn cung nguyên liệu pin trong nội khối.
3 giờ trước