Bình luận sáng ngày 22/7 SMM về Alumina
Thị trường kỳ hạn: Hợp đồng alumina được giao dịch nhiều nhất tháng 2609 thoái lui sau khi tăng nhanh trong đêm, mở cửa tại 2.733 nhân dân tệ/tấn, có lúc tăng lên 2.752 nhân dân tệ/tấn trước khi tích lũy và kéo lùi xuống mức thấp 2.722 nhân dân tệ/tấn, cuối cùng đóng cửa tại 2.729 nhân dân tệ/tấn, giảm 23 nhân dân tệ/tấn so với mức cao phiên. Biểu đồ nến ngày hình thành nến giảm nhỏ với bóng trên dài, cho thấy áp lực bán mạnh từ phía trên. Khối lượng giao dịch giảm 6.948 lô so với phiên trước xuống còn 115.000 lô, khối lượng vẫn thấp và hoạt động thị trường trầm lắng. Hợp đồng mở giảm 383 lô xuống còn 307.000 lô, dòng tiền tiếp tục rút ra nhẹ và cả phe mua lẫn phe bán đều thiếu ý muốn tham gia liên tục. Về mặt kỹ thuật, giá đóng cửa 2.729 nhân dân tệ/tấn vẫn nằm trên các đường MA5 (2.721,6), MA10 (2.706,2) và MA20 (2.706,95), với các đường trung bình động ngắn hạn xếp theo hướng tăng và trung tâm ngắn hạn dịch chuyển lên cao. Tuy nhiên, sau khi đạt đỉnh tại 2.752 nhân dân tệ/tấn trong ngày, giá bị chặn rõ ràng và kéo lùi, mức này tạo thành kháng cự kép cùng với MA40 (2.740,15), xác nhận áp lực giảm từ đường trung bình động trung hạn. Nhìn chung, giá kỳ hạn hiện thể hiện mô hình tích lũy với đặc điểm được hỗ trợ bởi các đường trung bình động ngắn hạn, áp lực đáng kể từ đường trung bình động trung hạn và khối lượng không đủ, khiến hướng đi ngắn hạn không rõ ràng. Cần chú ý liệu kháng cự quanh MA40 (2.740,15) có bị phá vỡ hiệu quả hay không và khối lượng có phục hồi đủ mạnh hay không. Nếu khối lượng vẫn thấp và giá không thể lấy lại mức 2.750 nhân dân tệ/tấn, dự kiến giá sẽ tích lũy một cách trầm lắng trong phạm vi 2.720 – 2.750 nhân dân tệ/tấn, với hỗ trợ tại MA5 (2.721,6) và mức tròn 2.700.
Thị trường quặng: Tính đến ngày 21 tháng 7 năm 2026, Chỉ số Bauxite nhập khẩu SMM ở mức 70,36 USD/tấn, không đổi so với ngày giao dịch trước; giá trung bình FOB Guinea của SMM ở mức 39 USD/tấn, không đổi so với ngày giao dịch trước; giá trung bình CIF bauxite Guinea của SMM ở mức 70,5 USD/tấn, không đổi so với ngày giao dịch trước; giá trung bình CIF bauxite nhiệt độ thấp Úc của SMM ở mức 64 USD/tấn, không đổi so với ngày giao dịch trước; giá trung bình CIF bauxite nhiệt độ cao Úc của SMM ở mức 58,5 USD/tấn, không đổi so với ngày giao dịch trước; giá trung bình CIF bauxite Malaysia ở mức 52 USD/tấn, không đổi so với ngày giao dịch trước; giá trung bình CIF bauxite Malaysia (đã rửa) ở mức 62,5 USD/tấn, không đổi so với ngày giao dịch trước; giá trung bình CIF bauxite Ghana ở mức 78 USD/tấn, không đổi so với ngày giao dịch trước; giá CFR bauxite Thổ Nhĩ Kỳ ở mức 78,5 USD/tấn, không đổi so với ngày giao dịch trước. Nhìn chung, về mặt quặng nội địa, hoạt động khai thác tại Sơn Tây, Hà Nam và các khu vực khác đang dần phục hồi, trong khi các nhà máy luyện alumina tiếp tục gây sức ép giảm giá, khiến giá quặng nội địa phần lớn ảm đạm. Về quặng nhập khẩu, cước vận tải biển duy trì ở mức cao, cùng với những bất ổn chính sách từ Guinea, mang lại chút hỗ trợ cho giá quặng. Tuy nhiên, tồn kho nguyên liệu tại các nhà máy luyện alumina trong nước vẫn ở mức cao, nhu cầu mua vào hạn chế và đàm phán giá vẫn tiếp diễn. Trong ngắn hạn, giá quặng nhập khẩu dự kiến tiếp tục dao động ở mức cao. Trong thời gian tới, vẫn cần theo dõi sát chính sách hạn ngạch bauxite của Guinea và biến động cước vận tải biển tuyến Úc - Trung.
Giá giao ngay: Tính đến ngày 21 tháng 7 năm 2026, Chỉ số Alumina SMM đạt 2.719,92 nhân dân tệ/tấn, giảm 4,16 nhân dân tệ/tấn; Chỉ số Alumina Sơn Đông SMM đạt 2.725,50 nhân dân tệ/tấn, giảm 4,21 nhân dân tệ/tấn; Chỉ số Alumina Hà Nam SMM đạt 2.752,16 nhân dân tệ/tấn, giảm 6,75 nhân dân tệ/tấn; Chỉ số Alumina Sơn Tây SMM đạt 2.757,36 nhân dân tệ/tấn, giảm 8,04 nhân dân tệ/tấn; Chỉ số Alumina Quý Châu SMM đạt 2.731,28 nhân dân tệ/tấn, giảm 0,80 nhân dân tệ/tấn; và Chỉ số Alumina Quảng Tây SMM đạt 2.632,27 nhân dân tệ/tấn, giảm 1,62 nhân dân tệ/tấn.
Chênh lệch giá hàng ngày: Theo dữ liệu SMM, vào ngày 21 tháng 7, Chỉ số Alumina SMM thấp hơn 7,08 nhân dân tệ/tấn so với giá giao dịch mới nhất lúc 11:30 của hợp đồng giao dịch nhiều nhất.
Chứng quyền hàng ngày: Ngày 21 tháng 7, tổng chứng quyền alumina đã đăng ký đạt 222.300 tấn, giảm 903 tấn so với ngày giao dịch trước. Theo khu vực, chứng quyền đăng ký Sơn Đông là 16.176 tấn, giảm 1.800 tấn; Hà Nam là 1.802 tấn, không đổi; Quảng Tây là 12.941 tấn, không đổi; Cam Túc là 13.472 tấn, giảm 5.721 tấn; và Tân Cương là 176.900 tấn, tăng 897 tấn.
Thị trường ngoài Trung Quốc: Tính đến ngày 21 tháng 7 năm 2026, giá alumina FOB Tây Úc đạt 335 đô la Mỹ/tấn; cước vận tải biển là 32,35 đô la Mỹ/tấn; và tỷ giá giao dịch USD/CNY là 6,78. Dựa trên các mức này, giá bán tương đương của alumina ngoại nhập tại các cảng chính của Trung Quốc khoảng 2.897,78 nhân dân tệ/tấn, cao hơn 177,86 nhân dân tệ/tấn so với Chỉ số Alumina SMM cùng ngày.
Tóm lược: Hiện tại, tổng tồn kho alumina tại Trung Quốc tăng nhẹ so với tháng trước, mức thay đổi tổng thể hạn chế. Về cơ cấu, tồn kho nguyên liệu tại các nhà máy luyện nhôm giảm phần nào, chủ yếu do giá giao ngay vẫn ở mức tương đối cao, khiến các nhà máy luyện nhôm hạ nguồn chậm lại việc thu mua nguyên liệu giá cao và chủ yếu sử dụng tồn kho hiện có trong nhà máy. Tồn kho tại các nhà máy lọc alumina tăng nhẹ, nhưng việc cắt giảm sản xuất do bảo dưỡng tại một số doanh nghiệp ở Sơn Tây và việc đưa vào vận hành công suất mới ở miền Nam Trung Quốc phần lớn bù trừ cho nhau, dẫn đến mức tăng tổng thể hạn chế. Tại các cảng, do ảnh hưởng của tàu mới cập bến, tồn kho đã phục hồi phần nào; về tồn kho chứng chỉ lưu kho, do ảnh hưởng của vấn đề hóa đơn và chênh lệch thu hẹp giữa giá kỳ hạn và giá giao ngay, sự sẵn lòng giao hàng vào kho hàng hóa phái sinh suy yếu, tồn kho tiếp tục giảm; tồn kho đang vận chuyển và tại các ga đã tích lũy phần nào, chủ yếu do các chứng chỉ trước đó đáo hạn và được giải phóng ra thị trường giao ngay, cùng với các chuyến hàng liên tục từ Quảng Tây, làm tăng nguồn cung trong khâu lưu thông. Dự kiến trong ngắn hạn, mô hình hoạt động tổng thể của thị trường alumina sẽ không thay đổi nhiều. Mặc dù một số doanh nghiệp sử dụng quặng trong nước và những doanh nghiệp có nguồn cung quặng eo hẹp có kế hoạch bảo dưỡng, nhưng tác động đến sản lượng tháng là hạn chế, và mức tồn kho có khả năng duy trì ở trạng thái hiện tại. Về mặt giá cả, khi tình trạng không khớp cung cầu giao ngay theo khu vực dần được cải thiện, trung tâm giá giao ngay có thể giảm nhẹ, và xu hướng sau đó có khả năng tiếp tục chịu áp lực.
[Tất cả các dữ liệu khác ngoài thông tin công khai đều được tổng hợp dựa trên thông tin công khai, giao tiếp thị trường và mô hình cơ sở dữ liệu nội bộ của SMM, do SMM xử lý. Chúng chỉ mang tính chất tham khảo và không cấu thành lời khuyên quyết định.]

![Nguy cơ chiến tranh toàn diện giữa Mỹ và Iran leo thang, động lực tăng giá nhôm ngắn hạn mạnh lên [Bản tin sáng SMM về nhôm]](https://imgqn.smm.cn/usercenter/bXuQG20251217171651.jpg)
