Bình luận sáng 7.21 về Hợp kim nhôm đúc của SMM
Hợp đồng tương lai: Hợp đồng hợp kim nhôm đúc AD2609 giao dịch nhiều nhất mở cửa giảm và củng cố yếu trong phiên đêm. Phiên đêm mở cửa ở mức 22.850 nhân dân tệ/tấn, đạt mức cao nhất phiên là 22.890 nhân dân tệ/tấn, xuống mức thấp nhất 22.730 nhân dân tệ/tấn và đóng cửa tại 22.840 nhân dân tệ/tấn, giảm 20 nhân dân tệ/tấn tương đương 0,09% so với giá thanh toán trước đó. Sau khi mở cửa, phiên đêm nhanh chóng giảm xuống mức thấp mới trong giai đoạn, sau đó phục hồi nhẹ nhưng đà bật lại yếu. Giá giao dịch dưới đường giá trung bình trong suốt phiên, phe mua tỏ ra yếu thế. Khối lượng giao dịch đạt 3.703 lô, vị thế mở giảm 178 lô. Dòng tiền giảm nhẹ vị thế và thoát ra. Chỉ báo KD nằm trong vùng yếu ở mức thấp. Chịu áp lực từ đợt giảm mạnh trong phiên giao dịch ban ngày, tâm lý chờ đợi và quan sát trên thị trường gia tăng. Nhìn chung, phiên đêm duy trì biên độ hẹp, xu hướng củng cố yếu, gặp kháng cự rõ rệt phía trên và thiếu động lực tăng hiệu quả.
Chênh lệch giá giao ngay - tương lai hàng ngày: Theo dữ liệu SMM, vào ngày 20 tháng 7, chênh lệch lý thuyết giữa giá giao ngay SMM ADC12 so với giá đóng cửa của hợp đồng hợp kim nhôm đúc giao dịch nhiều nhất (AD2609) lúc 10:15 sáng là .
Chứng chỉ lưu kho hàng ngày: Dữ liệu từ SHFE cho thấy tính đến ngày 20 tháng 7, tổng số chứng chỉ lưu kho đã đăng ký đối với hợp kim nhôm đúc đạt 18.698 tấn, giảm 2.107 tấn so với ngày giao dịch trước đó.
Diễn biến ngành: (1) Nhập khẩu phế liệu nhôm: Theo dữ liệu hải quan mới nhất, nhập khẩu phế liệu nhôm của Trung Quốc trong tháng 6 năm 2026 đạt khoảng 133.000 tấn, giảm 16,9% so với cùng kỳ năm trước và 12,5% so với tháng trước, đánh dấu tháng giảm thứ ba liên tiếp. Lũy kế nhập khẩu từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2026 đạt 982.000 tấn. (2) Nhập khẩu và xuất khẩu hợp kim nhôm: Dữ liệu hải quan cho thấy sự phân hóa rõ rệt trong xu hướng nhập khẩu và xuất khẩu hợp kim nhôm chưa gia công của Trung Quốc (HS 76012000) trong tháng 6 năm 2026. Nhập khẩu tiếp tục chịu áp lực, với lượng nhập khẩu tháng 6 đạt 55.100 tấn, giảm 28,9% so với cùng kỳ và 14,7% so với tháng trước. Lũy kế nhập khẩu nửa đầu năm đạt 433.500 tấn, giảm 20,0% so với cùng kỳ. Xuất khẩu tăng mạnh, tháng 6 đạt 67.200 tấn, tăng vọt 160,6% so với cùng kỳ và tăng 11,7% so với tháng trước, lập kỷ lục xuất khẩu trong một tháng. Xuất khẩu lũy kế từ tháng 1 đến tháng 6 đạt 238.500 tấn, tăng 98,3% so với cùng kỳ năm trước. Được thúc đẩy bởi nhập khẩu tiếp tục thu hẹp và xuất khẩu tăng trưởng nhanh, thương mại hợp kim nhôm chưa gia công đã quay trở lại vị thế xuất khẩu ròng vào tháng 6 năm 2026.
Phế liệu nhôm: Ngày hôm qua, giá nhôm giao ngay SMM A00 đóng cửa ở mức 23.190 nhân dân tệ/tấn, giảm nhẹ 30 nhân dân tệ/tấn so với phiên giao dịch trước. Thị trường phế liệu nhôm nhìn chung ổn định. Về chênh lệch giá giữa nhôm A00 và phế liệu nhôm, vào ngày 20 tháng 7, chênh lệch giá giữa nhôm A00 và phế liệu nhôm ép đùn hỗn hợp không sơn tại Phật Sơn là 2.012 nhân dân tệ/tấn, và chênh lệch giữa nhôm A00 và phế liệu nhôm căng vụn là 698 nhân dân tệ/tấn, cả hai đều duy trì ở mức cực thấp. Dự kiến thị trường phế liệu nhôm sẽ tiếp tục dao động ở mức cao trong biên độ hẹp. Về nguồn cung, những hạn chế từ chính sách xuất hóa đơn ngược khó có thể đảo ngược trong ngắn hạn, do đó tình trạng khan hiếm phế liệu nhôm có hóa đơn sẽ còn tiếp diễn. Về nhập khẩu, nhiều yếu tố giảm giá dự kiến sẽ dần xuất hiện trong những tháng tới, và nguồn bổ sung phế liệu chất lượng cao từ nước ngoài vẫn ở mức thấp. Về nhu cầu, khi mùa thấp điểm trầm trọng hơn, tỷ lệ hoạt động của các doanh nghiệp hạ nguồn vẫn ở mức thấp, và đơn hàng từ người dùng cuối không có cải thiện đáng kể. Các doanh nghiệp sử dụng phế liệu tiếp tục chiến lược mua theo nhu cầu, tâm lý thu mua chưa được cải thiện nhiều.
Kim loại silic: Vào ngày 20 tháng 7, giá SMM tại miền đông Trung Quốc giữ ổn định đối với #553 không thổi oxy, #521, #441, #421, #421 dùng cho silicone, và #3303; giá #553 thổi oxy giảm 50 nhân dân tệ/tấn. Giá silic tại Nam Trung Quốc, Cảng Hoàng Phố, Thiên Tân, Tứ Xuyên, Côn Minh, Tây Bắc Trung Quốc, Thượng Hải và Tân Cương đều giữ ổn định.
Thị trường ngoài Trung Quốc: Chào giá ADC12 ở nước ngoài hiện ở mức 3.050–3.190 USD/tấn. Bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như chào giá nước ngoài giảm nhẹ, giá trong nước duy trì ổn định và đồng nhân dân tệ mạnh lên so với đô la Mỹ, áp lực chi phí từ nhập khẩu đã giảm bớt phần nào. Chênh lệch giá giữa thị trường Trung Quốc và nước ngoài tiếp tục được thu hẹp, với mức lỗ ngay trên mỗi tấn nhập khẩu vào khoảng 882 nhân dân tệ.
Tóm tắt: Vào thứ Hai, thị trường ADC12 duy trì xu hướng ổn định chung, với báo giá SMM ADC12 không đổi ở mức 24.100 nhân dân tệ/tấn so với phiên giao dịch trước. Thị trường hợp kim nhôm thứ cấp hiện tại vẫn đang trong mùa thấp điểm. Các đơn hàng hạ nguồn hạn chế, người dùng cuối mua sắm theo nhu cầu, và hoạt động giao dịch tổng thể trầm lắng. Hỗ trợ từ phía cầu cho việc tăng giá là không đủ. Trong khi đó, giá nhôm dao động trong biên độ hẹp và biến động giá phế liệu nhôm bị hạn chế, không có thay đổi rõ rệt về phía chi phí, tạo ra động lực yếu tương tự cho việc điều chỉnh giá của doanh nghiệp. Dưới mô hình cung cầu yếu này, thị trường thiếu các yếu tố định hướng mới, và các doanh nghiệp chủ yếu áp dụng chiến lược theo xu hướng thị trường và duy trì giá ổn định khi giao hàng. Xét đến nguồn cung phế liệu nhôm vẫn tương đối thắt chặt và hỗ trợ chi phí vẫn tồn tại, trong khi sự cải thiện về nhu cầu phải chờ đến mùa cao điểm truyền thống, thị trường ADC12 ngắn hạn dự kiến sẽ tiếp tục tích lũy trong biên độ hẹp, với giá có khả năng duy trì chủ yếu ổn định. Việc theo dõi trong tương lai nên tập trung vào xu hướng giá nhôm, lưu thông phế liệu nhôm và tốc độ phục hồi đơn hàng hạ nguồn.
[Tuyên bố Nguồn Dữ liệu: Trừ khi là thông tin công khai, tất cả các dữ liệu khác đều được SMM xử lý dựa trên thông tin công khai, trao đổi thị trường và các mô hình cơ sở dữ liệu nội bộ của SMM, chỉ mang tính tham khảo. Chúng không cấu thành lời khuyên ra quyết định.]



