7.16
Theo số liệu của SMM, vào ngày 16 tháng 7, tồn kho phôi nhôm tại các khu vực tiêu thụ chính của Trung Quốc đạt 114.500 tấn, tăng nhẹ 1.000 tấn so với thứ Hai tuần trước nhưng giảm 2.000 tấn so với thứ Năm tuần trước. Đây là lần tăng tồn kho so với tuần trước đầu tiên trong năm nay, dù mức tăng tương đối nhỏ. So với cùng kỳ các năm trước, tồn kho thấp hơn 41.500 tấn so với năm 2025, thấp hơn 26.200 tấn so với năm 2024, nhưng cao hơn 24.800 tấn so với năm 2023. Tổng tồn kho vẫn ở mức tương đối thấp so với cùng thời điểm này trong bốn năm qua. Về lượng xuất kho, xuất kho phôi nhôm trong giai đoạn 7–13 tháng 7 đạt 42.100 tấn, giảm 6.400 tấn so với tuần trước. Lượng xuất kho vẫn ở mức cao nhưng đã hạ nhiệt phần nào. Hiện tại, tồn kho phôi nhôm có sự phân hóa theo khu vực: Phật Sơn ghi nhận tăng tồn kho 4.500 tấn, là nguyên nhân chính khiến tổng tồn kho phục hồi, chủ yếu do hàng về tập trung sau thời gian ít hàng về; các khu vực Vô Tích, Thường Châu và Hồ Châu tiếp tục giảm tồn kho, với Vô Tích giảm 1.500 tấn và Hồ Châu giảm 2.000 tấn, kéo tồn kho xuống thấp hơn nữa; Nam Xương ghi nhận tăng tồn kho nhẹ 500 tấn. Nhìn chung, tồn kho đã giảm xuống mức thấp lịch sử so với cùng kỳ, không còn nhiều dư địa để giảm thêm. Tuần tới, tồn kho phôi nhôm dự kiến sẽ dao động quanh mức 110.000 tấn trong biên độ hẹp. Cần chú ý đến khả năng hấp thụ hàng về của Phật Sơn và những thay đổi trong dòng chảy nguyên liệu giữa các khu vực.
Trung tâm giá nhôm tiếp tục dịch chuyển lên cao hơn trong tuần này. Giá nhôm giao ngay SMM A00 tăng từ 22.950 nhân dân tệ/tấn vào thứ Năm tuần trước lên 23.170 nhân dân tệ/tấn, tăng tổng cộng khoảng 220 nhân dân tệ/tấn. Trong bối cảnh giá nhôm tăng, phí gia công phân hóa theo khu vực, và Vô Tích cho thấy xu hướng giữ giá. Theo khu vực, tại Phật Sơn, phí gia công phôi nhôm φ90 được báo ở mức 440 nhân dân tệ/tấn và φ120 ở mức 390 nhân dân tệ/tấn, mỗi loại giảm 50 nhân dân tệ/tấn so với thứ Năm tuần trước. Tại Vô Tích, phí gia công phôi φ90 và φ120 lần lượt là 620 nhân dân tệ/tấn và 520 nhân dân tệ/tấn, tăng 80 nhân dân tệ/tấn so với thứ Năm tuần trước, với tâm lý giữ giá rõ ràng. Tại Nam Xương, phí φ90 và φ120 lần lượt là 460 nhân dân tệ/tấn và 410 nhân dân tệ/tấn, mỗi loại giảm 140 nhân dân tệ/tấn so với thứ Năm tuần trước. Phí gia công tại Vô Tích đi ngược xu hướng tăng trong tuần này, chủ yếu do nguồn cung lưu thông khan hiếm. Một số nhà sản xuất phôi nhôm cho biết lượng hàng giao dịch trên thị trường tương đối eo hẹp, và một số nhà sản xuất đã chuyển nguồn cung sang Quảng Đông, khiến lượng hàng về Vô Tích thấp, thúc đẩy tâm lý giữ giá mạnh. Tại Phật Sơn, phí gia công giảm dưới áp lực hàng về tăng gần đây, trong khi Nam Xương cũng giảm theo xu hướng chung. Tuần tới, phí gia công dự kiến vẫn phân hóa giữa các khu vực. Với hỗ trợ từ nguồn cung khan hiếm, phí tại Vô Tích có khả năng duy trì ở mức cao, trong khi Phật Sơn và Nam Xương vẫn còn dư địa giảm dưới áp lực hàng về. Cần chú ý đến tốc độ luân chuyển nguyên liệu giữa các khu vực và sự lan truyền của xu hướng giá nhôm đến phí gia công.


![Strait Blockade Threat Escalates; Aluminum Prices Remain in a Consolidation Wait-and-See State [SMM Aluminum Morning Meeting Minutes]](https://imgqn.smm.cn/usercenter/tYQzs20251217171653.jpg)
![Tâm lý giao dịch chủ yếu ảm đạm, phí bảo hiểm khó tăng [Điểm tin nhôm giao ngay giữa ngày SMM]](https://imgqn.smm.cn/usercenter/risnW20251217171650.jpg)
