Các nhà sản xuất hợp kim kẽm đúc khuôn Trung Quốc đối phó với tình trạng dư cung kéo dài như thế nào trong nửa cuối năm 2026?

Đã xuất bản: Jul 10, 2026 17:57
Theo thống kê của SMM, tỷ lệ vận hành trung bình của các nhà sản xuất hợp kim kẽm đúc áp lực trong nước từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2026 đã giảm 6,25 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2025, cho thấy hoạt động sản xuất chung chậm lại rõ rệt.

I. Tỷ lệ vận hành: Giảm mạnh so với cùng kỳ; Kỳ nghỉ kéo dài cản trở khôi phục sản xuất

Theo thống kê của SMM, tỷ lệ vận hành trung bình của các nhà sản xuất hợp kim kẽm đúc trong nước từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2026 giảm 6,25 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2025, phản ánh hoạt động sản xuất tổng thể chậm lại rõ rệt.

Quanh dịp Tết Nguyên đán, giá kẽm tăng vọt ngoài dự kiến, làm dấy lên tâm lý e ngại giá cao và thái độ chờ đợi của khách hàng hạ nguồn. Do đó, thời gian nghỉ lễ của ngành kéo dài hơn dự đoán, thời gian ngừng máy trung bình của nhà máy lên tới 23,5 ngày, dài hơn 1,1 ngày so với cùng kỳ năm trước; một số doanh nghiệp thậm chí ngừng sản xuất tới 44 ngày.

Ngành ghi nhận tốc độ khôi phục sản xuất chậm chạp sau kỳ nghỉ, tỷ lệ vận hành chỉ dần hồi phục sau Tết Nguyên tiêu. Thị trường bước vào giai đoạn cao điểm mùa vụ ngắn trong tháng 3, đẩy tỷ lệ vận hành lên 51,8%, nhưng đà tăng không duy trì được. Giá kẽm cao kéo dài kể từ tháng 4 làm giảm ý định mua vào của hạ nguồn, khiến tỷ lệ vận hành giảm liên tiếp trong tháng 5 và 6. Tỷ lệ vận hành tháng 6 đạt 40,46%, giảm nhẹ 0,18 điểm phần trăm so với tháng trước và 5 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

Nhu cầu cuối cùng thể hiện sự phân hóa cơ cấu rõ rệt: đơn hàng từ lĩnh vực điện tử và phụ tùng ô tô tương đối ổn định; nhu cầu đồ kim khí bất động sản vẫn yếu kéo dài, đè nặng lên tiêu dùng cứng tổng thể; đơn hàng công nghiệp nhẹ như hành lý, khóa kéo biến động theo mùa rõ rệt giữa cao điểm và thấp điểm. Trong khi đó, căng thẳng địa chính trị dai dẳng ở Trung Đông làm gián đoạn thương mại nước ngoài, khiến đơn hàng xuất khẩu đồ kim khí trong nước tới khu vực này sụt giảm liên tục.

II. Chi phí và Lợi nhuận: Giá nguyên liệu duy trì ở mức cao, phí gia công hợp kim tăng để bù đắp rủi ro

Nửa đầu năm 2026, giá ba kim loại cơ bản — kẽm, nhôm và đồng — vẫn ở mức cao, liên tục đẩy chi phí nguyên liệu của nhà sản xuất hợp kim kẽm đúc lên cao và khiến biên lợi nhuận ngành thu hẹp theo chu kỳ. Áp lực chi phí nổi lên rõ rệt vào đầu năm. Chênh lệch giá trung bình hàng tháng giữa kẽm và nhôm thu hẹp mạnh từ 1.144 nhân dân tệ/tấn vào tháng 12 năm ngoái xuống chỉ còn 140 nhân dân tệ/tấn vào tháng 1. Vào cuối quý 1, một kịch bản thị trường cực đoan đã hình thành khi giá nhôm tạm thời vượt qua giá kẽm. Giá đồng cũng duy trì ổn định trên mức 100.000 nhân dân tệ/tấn, tiếp tục thu hẹp lợi nhuận của các nhà sản xuất.

Để bù đắp tổn thất phát sinh từ nguyên liệu thô đắt đỏ, các lò luyện hợp kim trong nước đã đồng loạt nâng phí gia công để giảm bớt áp lực vận hành. Khi điều kiện thị trường dần hồi phục, chênh lệch giá kẽm-nhôm đã phục hồi lên mức trung bình hàng tháng 209 nhân dân tệ/tấn trong tháng 5, mang lại sự cải thiện nhẹ về biên lợi nhuận cho hợp kim kẽm 3#. Vào tháng 6, chênh lệch giá kẽm-đồng thu hẹp, nhưng đã xuất hiện những cải thiện nhỏ về lợi nhuận cho hợp kim kẽm 5#. Mặc dù áp lực lợi nhuận toàn ngành đã dịu bớt đôi chút, nhưng nhìn chung lợi nhuận vẫn ở mức thấp.

III. Nhập khẩu & Xuất khẩu: Nhập khẩu tiếp tục giảm, Xuất khẩu tăng vọt

Trong nửa đầu năm 2026, xuất nhập khẩu hợp kim kẽm đúc áp lực duy trì xu hướng tăng xuất khẩu, giảm nhập khẩu. Theo số liệu thống kê hải quan, tổng lượng nhập khẩu hợp kim kẽm đúc áp lực của Trung Quốc đạt 13.259 tấn trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 5, giảm 30,39% so với cùng kỳ năm trước; tổng lượng xuất khẩu đạt 5.088 tấn, tăng vọt 115,80% so với cùng kỳ.

Việc mở rộng công suất liên tục và tình trạng dư thừa năng lực trầm trọng tại các lò luyện trong nước đã thúc đẩy quá trình thay thế hợp kim nhập khẩu bằng sản phẩm nội địa, dẫn đến nhập khẩu sụt giảm liên tục. Về phía xuất khẩu, các nhà sản xuất được hưởng lợi từ khả năng cạnh tranh về giá nhờ tỷ giá kẽm Thượng Hải - London yếu, cùng với nhu cầu mạnh mẽ từ các thị trường mới nổi như Đông Nam Á. Trong lượng xuất khẩu tháng 5, Đài Loan (Trung Quốc) và Việt Nam cùng chiếm gần 88% tổng xuất khẩu, riêng châu Á chiếm hơn 97%.

II. Triển vọng nửa cuối năm: Nền tảng cơ bản ổn định, tiềm ẩn rủi ro, nhiều yếu tố chi phối diễn biến thị trường

Phía cầu: Hỗ trợ chính sách nhưng nhu cầu mới hạn chế, xuất khẩu duy trì sức bền

Hướng tới nửa cuối năm 2026, nhu cầu sử dụng cuối cùng đối với hợp kim kẽm đúc áp lực trong nước sẽ theo xu hướng ổn định về tổng lượng nhưng có sự phân hóa về cơ cấu. Mặc dù các chính sách ổn định thị trường bất động sản liên tiếp được triển khai, nhưng có độ trễ rõ rệt trước khi hiệu quả chính sách lan tỏa đến nhu cầu phần cứng xây dựng. Diện tích sàn nhà ở hoàn thành lũy kế tính đến tháng 5 giảm 23,4% so với cùng kỳ năm ngoái, dẫn đến dư địa phục hồi nhu cầu ngắn hạn hạn chế.

Ngành ô tô nhận được sự hỗ trợ liên tục từ chính sách trợ cấp đổi xe. Tuy nhiên, việc nâng cấp trọng lượng nhẹ cho xe năng lượng mới đã liên tục cắt giảm mức tiêu thụ hợp kim kẽm trên mỗi xe, dẫn đến sự hỗ trợ tăng thêm yếu ớt từ phân khúc này. Ngành thiết bị gia dụng được hưởng lợi kép từ trợ cấp đổi mới và ưu đãi mua mới, nhưng hiệu ứng trợ cấp suy yếu dần đã làm giảm kích thích cầu biên.

Từ góc độ mùa vụ, tháng 6 đến tháng 8 là mùa thấp điểm truyền thống với nhu cầu tổng thể trầm lắng. Dự kiến nhu cầu sẽ phục hồi theo chu kỳ vào mùa cao điểm tháng 9–10, nhưng tăng trưởng nhu cầu nội địa cả năm vẫn ở mức khiêm tốn. So với tiêu thụ nội địa ảm đạm, xuất khẩu, dù khối lượng nhỏ, sẽ là điểm sáng lớn cho nhu cầu cả năm. Tỷ giá kẽm Thượng Hải – London thuận lợi liên tục cùng với tăng trưởng nhu cầu ổn định tại các thị trường nước ngoài như Việt Nam, khu vực Đài Loan của Trung Quốc và Bangladesh có thể sẽ duy trì mức tăng trưởng xuất khẩu mạnh của hợp kim kẽm đúc áp lực trong nửa cuối năm.

Phía cung: Dư thừa công suất nghiêm trọng kéo dài, Hợp nhất ngành tăng tốc

Áp lực phía cung vẫn nổi bật khi các lò luyện trong nước tiếp tục mở rộng công suất hợp kim kẽm đúc, khiến ngành phải gánh chịu tình trạng dư thừa công suất dai dẳng. Các nhà sản xuất hợp kim tư nhân đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng tăng từ nguồn cung hợp kim giá rẻ của các lò luyện, thúc đẩy sự chuyển dịch ngày càng lớn sang mô hình kinh doanh thiên về thương mại trên toàn ngành.

Cú sốc kép từ dư thừa công suất và nhu cầu nội địa trì trệ đã tạo ra nghịch lý cạnh tranh giá khốc liệt đi kèm với chi phí nguyên liệu tăng cao, làm trầm trọng thêm áp lực vận hành cho các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ. Một số nhà sản xuất đã chuyển sang sản xuất hợp kim tùy chỉnh và vận hành khác biệt để duy trì hoạt động, nhưng tình trạng dư thừa công suất toàn ngành không thể đảo ngược trong ngắn hạn, và quá trình hợp nhất ngành sẽ tiếp tục tăng tốc.

 

 

Tuyên bố về Nguồn Dữ liệu: Ngoại trừ thông tin công khai, tất cả dữ liệu khác được SMM xử lý dựa trên thông tin công khai, giao tiếp thị trường và dựa trên mô hình cơ sở dữ liệu nội bộ của SMM. Chúng chỉ mang tính chất tham khảo và không cấu thành khuyến nghị ra quyết định.

Để biết thêm thông tin hoặc có thắc mắc gì, vui lòng liên hệ: lemonzhao@smm.cn
Để biết thêm thông tin về cách truy cập báo cáo nghiên cứu, vui lòng liên hệ:service.en@smm.cn
Tin Liên Quan
Dữ liệu: Biến động thị trường SHFE, DCE (16/7)
1 giờ trước
Dữ liệu: Biến động thị trường SHFE, DCE (16/7)
Đọc thêm
Dữ liệu: Biến động thị trường SHFE, DCE (16/7)
Dữ liệu: Biến động thị trường SHFE, DCE (16/7)
Bảng dưới đây cho thấy diễn biến của kim loại đen và kim loại màu trên SHFE và DCE vào ngày 16 tháng 7 năm 2026.
1 giờ trước
[SMM Flash] Ấn Độ đối mặt lệnh cấm xuất khẩu lưu huỳnh
1 giờ trước
[SMM Flash] Ấn Độ đối mặt lệnh cấm xuất khẩu lưu huỳnh
Đọc thêm
[SMM Flash] Ấn Độ đối mặt lệnh cấm xuất khẩu lưu huỳnh
[SMM Flash] Ấn Độ đối mặt lệnh cấm xuất khẩu lưu huỳnh
Theo phản hồi từ một nhà máy lọc dầu Ấn Độ, cơ quan chức năng nước này đã ban hành chỉ thị ưu tiên cung ứng lưu huỳnh nội địa và cấm xuất khẩu, nhằm đảm bảo nguồn cung trong nước. Dữ liệu thương mại cho thấy xuất khẩu lưu huỳnh của Ấn Độ tập trung mạnh vào thị trường Trung Quốc. Theo số liệu từ WITS, năm 2024, tổng kim ngạch xuất khẩu lưu huỳnh thô hoặc chưa tinh chế của Ấn Độ đạt khoảng 81,02 triệu USD, với khối lượng khoảng 805,2 triệu kg (tương đương 805.200 tấn). Trong đó, xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 78,33 triệu USD, khối lượng khoảng 797,2 triệu kg (tương đương 797.200 tấn), chiếm khoảng 99% tổng xuất khẩu lưu huỳnh của Ấn Độ. Các điểm đến lớn khác gồm Tanzania, Nam Phi, Sri Lanka và Australia, nhưng với số lượng rất hạn chế. Trước đó, các nhóm vận động hành lang ngành công nghiệp Ấn Độ đã nhiều lần kêu gọi chính phủ New Delhi cấm xuất khẩu lưu huỳnh. Với nhu cầu lưu huỳnh hàng năm khoảng 2 triệu tấn, hơn một nửa nguồn cung của Ấn Độ được đáp ứng từ nhập khẩu, gần một nửa trong số đó đến từ Trung Đông. Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến lệnh cấm xuất khẩu này là sự gián đoạn nghiêm trọng tuyến vận tải biển qua eo biển Hormuz do các xung đột địa chính trị tại Trung Đông, khiến nguồn cung lưu huỳnh toàn cầu liên tục bị thắt chặt.
1 giờ trước
【SMM Flash】Tồn kho kẽm thỏi Trung Quốc tăng 2.900 tấn so với tuần trước, giảm nhẹ so với thứ Hai
3 giờ trước
【SMM Flash】Tồn kho kẽm thỏi Trung Quốc tăng 2.900 tấn so với tuần trước, giảm nhẹ so với thứ Hai
Đọc thêm
【SMM Flash】Tồn kho kẽm thỏi Trung Quốc tăng 2.900 tấn so với tuần trước, giảm nhẹ so với thứ Hai
【SMM Flash】Tồn kho kẽm thỏi Trung Quốc tăng 2.900 tấn so với tuần trước, giảm nhẹ so với thứ Hai
【Tin nhanh SMM】Theo dữ liệu từ SMM, tính đến thứ Năm tuần này (ngày 16 tháng 7), tổng lượng tồn kho kẽm thỏi trên bảy khu vực của Trung Quốc đạt 267.700 tấn, tăng 2.900 tấn so với ngày 9 tháng 7 nhưng giảm 1.300 tấn so với ngày 13 tháng 7, với lượng tồn kho nội địa đang giảm.
3 giờ trước