Trong tuần kết thúc ngày 10 tháng 7, thị trường axit sunfuric Trung Quốc duy trì ở mức cao về tổng thể, nhưng đà tăng chậm lại đáng kể so với tuần trước, và sự phân hóa khu vực càng thêm sâu sắc. Chỉ số axit luyện đồng SMM Trung Quốc được báo cáo ở mức 1.784,5 nhân dân tệ/tấn, giảm 4,5 nhân dân tệ/tấn so với tuần trước, chấm dứt chuỗi tăng và thể hiện dấu hiệu củng cố ở mức cao. Sự sẵn sàng mua vào từ hạ nguồn nhìn chung yếu, với sự phản kháng dai dẳng đối với giá cao. Tuy nhiên, về mặt chi phí, giá lưu huỳnh ổn định và phục hồi từ mức thấp, tạo hỗ trợ đáy cho giá axit sunfuric. Thị trường bước vào giai đoạn giằng co với đặc điểm "kháng cự phía trên, hỗ trợ phía dưới."
Về mặt chi phí, giá lưu huỳnh Trung Quốc tuần này giảm trước rồi tăng. Đầu tuần, giá tiếp tục điều chỉnh giảm, bắt đầu phục hồi từ mức thấp từ giữa tuần. SMM Sulphur (EXW Sơn Đông) được báo cáo ở mức 8.607-9.250 nhân dân tệ/tấn vào ngày 10 tháng 7, trung bình 8.928,5 nhân dân tệ/tấn, giảm khoảng 221,5 nhân dân tệ/tấn so với thứ Sáu tuần trước, nhưng đã phục hồi 125 nhân dân tệ/tấn từ mức thấp trong tuần. Tồn kho lưu huỳnh tại cảng duy trì ở mức thấp khoảng 710.000 tấn, ở mức thấp nhất gần mười năm, tạo hỗ trợ đáy cho giá lưu huỳnh. Sự ổn định và phục hồi về mặt chi phí đã hỗ trợ giá axit sunfuric, nhưng mức chấp nhận giá cao của hạ nguồn hạn chế, cản trở việc chuyển giao chi phí.
Diễn biến khu vực: giá biến động trái chiều tuần này, mức tăng tập trung ở Vân Nam và Tứ Xuyên, trong khi Giang Tây ghi nhận mức giảm đáng kể, và hầu hết các khu vực giữ ổn định.
Vân Nam, giá xuất xưởng tăng 50 nhân dân tệ/tấn lên 1.640-1.700 nhân dân tệ/tấn. Các doanh nghiệp cho biết mức giá này tương đối thấp và vẫn còn động lực tăng bắt kịp;Tứ Xuyên, tăng 50 nhân dân tệ/tấn lên 1.580-1.720 nhân dân tệ/tấn. Các doanh nghiệp cho biết việc bảo dưỡng nhà máy gây thiếu hụt nguồn cung, giữ giá vững;Liangshan Mining tăng 80 nhân dân tệ/tấn lên 1.580 nhân dân tệ/tấn trong tuần này.Giang Tây, trở thành khu vực có mức giảm nổi bật trong tuần này, với giá xuất xưởng giảm 130 nhân dân tệ/tấn xuống 1.800-1.840 nhân dân tệ/tấn. Các doanh nghiệp cho biết nhu cầu hóa chất hạ nguồn yếu; sau khi giảm 50 nhân dân tệ/tấn tuần trước và giảm thêm 80 nhân dân tệ/tấn tuần này, mức giảm lũy kế là đáng kể. Thiểm Tây, Công ty TNHH Kẽm Hán Trung duy trì giá xuất xưởng ở mức 1.720-1.735 nhân dân tệ/tấn, cung cầu cơ bản ổn định.
Sơn Đông, giữ ổn định ở mức 1.900-2.040 nhân dân tệ/tấn. Các doanh nghiệp báo cáo giá giao dịch thực tế khoảng 1.900-2.000 nhân dân tệ/tấn, nhưng nguồn cung giá thấp 1.450 nhân dân tệ/tấn từ Công ty Hóa chất Doanh Khẩu Thịnh Hải đã gây xáo trộn tâm lý thị trường, và khách hàng có tâm lý so sánh giá.An Huy, giữ ổn định ở mức 1.830-1.880 nhân dân tệ/tấn, cung cầu tương đối cân bằng.Phúc Kiến, giữ ổn định ở mức 1.800-1.900 nhân dân tệ/tấn;Quảng Tây, giữ ổn định ở mức 1.780-1.900 nhân dân tệ/tấn, cung cầu khu vực ổn định. Tại Hồ Bắc, giá duy trì ổn định ở mức 1.600-1.700 nhân dân tệ/tấn, tại Hồ Nam, giá duy trì ổn định ở mức 1.650-1.850 nhân dân tệ/tấn, và tại Hà Nam, giá duy trì ổn định ở mức 1.700-1.800 nhân dân tệ/tấn. Các doanh nghiệp báo cáo tình trạng thiếu cung axit 105%, với giá ở mức 2.000 nhân dân tệ/tấn, chủ yếu dùng cho sản xuất axit flohydric, nhôm florua và caprolactam.
Tại Đông Bắc Trung Quốc, giá duy trì ổn định. Các doanh nghiệp ở khu vực Xích Phong báo cáo rằng xu hướng tăng bị chặn lại, một số hàng có thể chảy vào thị trường Sơn Đông, cho rằng chênh lệch giá khu vực cuối cùng sẽ có xu hướng cân bằng. Tại Nội Mông, giá duy trì ổn định ở mức 1.430-1.700 nhân dân tệ/tấn, tại Liêu Ninh, giá duy trì ổn định ở mức 1.650-1.750 nhân dân tệ/tấn, tại Cát Lâm, giá duy trì ổn định ở mức 1.800-1.900 nhân dân tệ/tấn, và tại Hắc Long Giang, giá duy trì ổn định ở mức 1.700-1.850 nhân dân tệ/tấn.
Tại Tây Bắc Trung Quốc, giá ở Cam Túc duy trì ổn định ở mức 1.750-1.910 nhân dân tệ/tấn, tại Thanh Hải, giá duy trì ổn định ở mức 1.820-1.840 nhân dân tệ/tấn, và tại Tân Cương, giá duy trì ổn định ở mức 1.400-1.600 nhân dân tệ/tấn.
Trên thị trường quốc tế, axit sunfuric SMM (CFR Indonesia) được đánh giá ở mức 310-380 USD/tấn, giá trung bình 345 USD/tấn, giảm 50 USD/tấn so với tuần trước, chủ yếu do dòng hàng Trung Đông dần phục hồi sau khi hoạt động hàng hải qua eo biển Hormuz được nối lại, cùng với tâm lý chờ đợi gia tăng từ thu mua hạ nguồn. Axit sunfuric SMM (FOB Hàn Quốc) được đánh giá ở mức 360-370 USD/tấn, giá trung bình 365 USD/tấn, giảm 10 USD/tấn so với tuần trước. Axit sunfuric SMM (EXW Zambia) được đánh giá ở mức 380-420 USD/tấn, giá trung bình 400 USD/tấn, tăng 100 USD/tấn so với tuần trước, phản ánh nguồn cung axit sunfuric thắt chặt tại vành đai đồng châu Phi. Lưu huỳnh SMM (CIF Indonesia) được đánh giá ở mức 1.100-1.200 USD/tấn, giá trung bình 1.150 USD/tấn, đi ngang so với tuần trước. Tại vành đai đồng châu Phi, lưu huỳnh SMM (DAP CHDC Congo) được đánh giá ở mức 1.800-1.850 USD/tấn, và lưu huỳnh SMM (DDP CHDC Congo) được đánh giá ở mức 2.100-2.300 USD/tấn, cùng đi ngang so với tuần trước.
Dự báo trong thời gian tới, giá axit sunfuric nội địa Trung Quốc được kỳ vọng tiếp tục củng cố ở mức cao trong ngắn hạn. Chi phí lưu huỳnh ổn định và phục hồi hỗ trợ giá axit, nhưng các lĩnh vực hạ nguồn, bao gồm phân lân và hóa chất, đang ngày càng phản kháng giá cao, khiến tốc độ thu mua chậm lại. Một số doanh nghiệp vẫn lạc quan về xu hướng tăng dài hạn, nhưng khối lượng giao dịch giá cao hạn chế trong ngắn hạn, làm dấy lên nghi ngờ về tính bền vững của đà tăng. Phân hóa khu vực có khả năng kéo dài: khu vực giá thấp như Vân Nam vẫn còn dư địa tăng giá bắt kịp, khu vực nhu cầu yếu như Giang Tây chịu áp lực giảm giá, trong khi đà tăng ở các khu vực giá cao như Sơn Đông và Phúc Kiến có thể chậm lại hơn nữa. Trên thị trường quốc tế, tiến độ nối lại hàng hải qua eo biển Hormuz và lượng hàng Trung Đông thực tế cập cảng vẫn là những biến số then chốt.
Tóm tắt dữ liệu cốt lõi tuần này:
- Chỉ số axit luyện đồng SMM Trung Quốc: 1.784,5 NDT/tấn, giảm nhẹ 4,5 NDT/tấn so với tuần trước
- Giá lưu huỳnh trung bình tuần SMM (EXW Sơn Đông): 8.928,5 NDT/tấn (10/7), giảm khoảng 221,5 NDT/tấn so với thứ Sáu tuần trước
- Axit sunfuric Sơn Đông: 1.900-2.040 NDT/tấn (đi ngang so với tuần trước)
- Axit sunfuric Vân Nam: 1.640-1.700 NDT/tấn (+50)
- Axit sunfuric Tứ Xuyên: 1.580-1.720 NDT/tấn (+50)
- Axit sunfuric Giang Tây: 1.800-1.840 NDT/tấn (-130)
- Tồn kho lưu huỳnh tại cảng toàn quốc: khoảng 710.000 tấn, mức thấp nhất trong thập kỷ
![[Phân tích SMM] Dữ liệu xuất nhập khẩu lưu huỳnh và axit sunfuric của Indonesia tháng Năm](https://imgqn.smm.cn/usercenter/ZsMtd20251217171723.jpeg)

