Tổng cục Thống kê Quốc gia (NBS): CPI tháng 6 tăng 1% so với cùng kỳ năm trước, PPI tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng PPI so cùng kỳ năm trước mở rộng nhẹ.

Đã xuất bản: Jul 9, 2026 09:53

Số liệu từ Cục Thống kê Quốc gia (NBS) cho thấy: số liệu từ NBS cho thấy trong tháng 6 năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) toàn quốc tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, khu vực thành thị tăng 1,0% và nông thôn tăng 0,8%; giá thực phẩm giảm 1,6%, trong khi giá phi thực phẩm tăng 1,5%; giá hàng tiêu dùng tăng 1,1% và giá dịch vụ tăng 0,8%. Trong nửa đầu năm, CPI toàn quốc tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng 6, CPI toàn quốc giảm 0,3% so với tháng trước, khu vực thành thị giảm 0,4% và nông thôn giảm 0,3%; giá thực phẩm giảm 0,4% và giá phi thực phẩm giảm 0,3%; giá hàng tiêu dùng giảm 0,6%, trong khi giá dịch vụ không đổi. Số liệu của NBS cũng cho thấy trong tháng 6 năm 2026, giá xuất xưởng của nhà sản xuất công nghiệp toàn quốc tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước và giảm 0,3% so với tháng trước. Giá mua vào của nhà sản xuất công nghiệp tăng 6,4% so với cùng kỳ năm trước và giảm 0,2% so với tháng trước. Trong nửa đầu năm, giá xuất xưởng của nhà sản xuất công nghiệp tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước và giá mua vào của nhà sản xuất công nghiệp tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước. Đổng Lệ Quyên, Thống kê trưởng Cục Điều tra Đô thị thuộc NBS, đã phân tích số liệu CPI và PPI tháng 6 năm 2026.

Tháng 6 năm 2026, CPI tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước

Trong tháng 6 năm 2026, CPI toàn quốc tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, khu vực thành thị ghi nhận mức tăng 1,0% và nông thôn tăng 0,8%; giá thực phẩm giảm 1,6%, trong khi giá phi thực phẩm tăng 1,5%; giá hàng tiêu dùng tăng 1,1% và giá dịch vụ tăng 0,8%. Trong nửa đầu năm, CPI toàn quốc tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước.

Trong tháng 6, CPI toàn quốc giảm 0,3% so với tháng trước, khu vực thành thị giảm 0,4% và nông thôn giảm 0,3%; giá thực phẩm giảm 0,4% và giá phi thực phẩm giảm 0,3%; giá hàng tiêu dùng giảm 0,6%, trong khi giá dịch vụ không đổi.

1. Biến động so với cùng kỳ năm trước của giá các loại hàng hóa và dịch vụ

Trong tháng 6, giá thực phẩm, thuốc lá, rượu bia và ăn uống ngoài gia đình giảm 0,8% so với cùng kỳ năm trước, kéo CPI giảm khoảng 0,24 điểm phần trăm. Trong nhóm thực phẩm, giá thịt gia súc giảm 7,3%, kéo CPI giảm khoảng 0,30 điểm phần trăm, trong đó giá thịt lợn giảm 15,9%; giá sản phẩm sữa giảm 1,7%, góp phần làm CPI giảm 0,02 điểm phần trăm; giá trái cây tươi giảm 0,7%, góp phần làm CPI giảm 0,01 điểm phần trăm; trong khi giá trứng tăng 16,0%, đẩy CPI tăng khoảng 0,08 điểm phần trăm.

Trong số bảy nhóm hàng còn lại, giá của sáu nhóm tăng và một nhóm giảm so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, giá hàng hóa và dịch vụ khác, giao thông và thông tin liên lạc, y tế tăng lần lượt 6,6%, 4,1% và 2,3%; giá may mặc và giáo dục, văn hóa và giải trí đều tăng 1,4%; giá đồ dùng và dịch vụ gia đình tăng 1,3%; và giá nhà ở giảm 0,3%.

II. Biến động so với tháng trước của giá các loại hàng hóa và dịch vụ

Trong tháng 6, giá thực phẩm, thuốc lá, rượu bia và ăn uống ngoài gia đình giảm 0,3% so với tháng trước, góp phần làm CPI giảm khoảng 0,08 điểm phần trăm. Trong nhóm thực phẩm, giá trái cây tươi giảm 2,0%, góp phần làm CPI giảm 0,04 điểm phần trăm; giá rau tươi giảm 1,0%, góp phần làm CPI giảm 0,02 điểm phần trăm; giá thịt gia súc giảm 0,5%, góp phần làm CPI giảm 0,02 điểm phần trăm, trong đó giá thịt lợn giảm 0,8%; giá trứng tăng 5,8%, góp phần làm CPI tăng 0,03 điểm phần trăm.

Giá của bảy nhóm còn lại diễn biến một nhóm tăng, hai nhóm không đổi và bốn nhóm giảm so với tháng trước. Cụ thể, giá y tế tăng 0,2%; giá nhà ở và giáo dục, văn hóa và giải trí không đổi; giá hàng hóa và dịch vụ khác giảm 2,7% và giao thông, thông tin liên lạc giảm 1,3%; giá đồ dùng và dịch vụ gia đình giảm 0,2% và may mặc giảm 0,1%.

Tháng 6 năm 2026, Chỉ số giá sản xuất (PPI) tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước và giảm 0,3% so với tháng trước

Trong tháng 6 năm 2026, Chỉ số giá sản xuất (PPI) toàn quốc tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước và giảm 0,3% so với tháng trước. Chỉ số giá mua vào của nhà sản xuất công nghiệp tăng 6,4% so với cùng kỳ năm trước và giảm 0,2% so với tháng trước. Trong nửa đầu năm, PPI tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước và chỉ số giá mua vào tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước. 

I. Biến động so với cùng kỳ năm trước của giá sản xuất công nghiệp

Trong tháng 6, trong Chỉ số giá sản xuất, giá tư liệu sản xuất tăng 5,5% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp khoảng 4,28 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Trong đó, giá ngành khai khoáng tăng 16,5%, ngành nguyên liệu thô tăng 8,6% và ngành chế biến tăng 3,0%. Giá hàng tiêu dùng giảm 0,9%, đóng góp khoảng 0,20 điểm phần trăm vào mức giảm chung. Trong đó, giá thực phẩm giảm 2,1%, giá may mặc và hàng hóa thông dụng đều giảm 1,0%, và giá hàng tiêu dùng lâu bền tăng 0,1%.

Trong Chỉ số giá mua vào, giá nguyên liệu kim loại màu và dây dẫn tăng 21,6%, nhiên liệu và điện năng tăng 11,8%, nguyên liệu hóa chất tăng 11,5%, nguyên liệu dệt may tăng 3,3% và nguyên liệu kim loại đen tăng 1,3%; giá vật liệu xây dựng và sản phẩm phi kim loại giảm 4,8%, và phụ phẩm nông nghiệp giảm 1,3%.

II. Biến động so với tháng trước của giá sản xuất công nghiệp

Trong tháng 6, trong giá sản xuất công nghiệp, giá tư liệu sản xuất giảm 0,3% so với tháng trước, kéo mức giá sản xuất công nghiệp chung giảm khoảng 0,25 điểm phần trăm. Trong đó, giá khai khoáng giảm 0,9%, giá nguyên liệu giảm 1,2%, giá ngành chế biến tăng 0,2%. Giá hàng tiêu dùng giảm 0,3%, kéo mức giá sản xuất công nghiệp chung giảm khoảng 0,06 điểm phần trăm. Trong đó, giá thực phẩm giảm 0,8%, giá quần áo và hàng tiêu dùng lâu bền không đổi, giá đồ dùng hàng ngày giảm 0,1%.

Trong giá mua vào của nhà sản xuất công nghiệp, giá nguyên liệu hóa chất giảm 1,3%, giá nhiên liệu và năng lượng giảm 0,5%, giá vật liệu xây dựng và khoáng phi kim giảm 0,4%, giá nông sản và sản phẩm phụ giảm 0,3%; giá nguyên liệu dệt may tăng 0,7%, giá kim loại màu và dây dẫn tăng 0,1%; giá kim loại đen không đổi.

Tháng 6 năm 2026, CPI Duy Trì Tăng Nhẹ So Với Cùng Kỳ Trong Khi Mức Tăng PPI So Với Cùng Kỳ Mở Rộng Nhẹ

— Diễn giải số liệu CPI và PPI tháng 6 năm 2026 của Đổng Lị Quyên, Chuyên gia Thống kê trưởng Cục Đô thị, Tổng cục Thống kê

Tháng 6, chịu ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ và biến động giá thị trường quốc tế, Chỉ số Giá tiêu dùng (CPI) giảm 0,3% so với tháng trước và tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước. CPI lõi, loại trừ giá thực phẩm và năng lượng, tăng 1,0% so với cùng kỳ, tiếp tục duy trì mức tăng nhẹ. Trong khi nhu cầu ở một số lĩnh vực trong nước tăng, chịu tác động của các yếu tố như giá dầu thô quốc tế giảm, Chỉ số Giá sản xuất công nghiệp (PPI) giảm 0,3% so với tháng trước và tăng 4,1% so với cùng kỳ.

I. CPI Duy trì Mức Tăng Nhẹ

Trên cơ sở so với tháng trước, CPI cả nước giảm 0,3%. Do biến động giá thị trường quốc tế, giá trang sức vàng trong nước và xăng giảm lần lượt 8,7% và 4,9%, mức giảm lần lượt mở rộng thêm 5,9 và 4,6 điểm phần trăm so với tháng trước, cùng tác động làm CPI so với tháng trước giảm khoảng 0,22 điểm phần trăm, và lực kéo giảm CPI tăng thêm khoảng 0,19 điểm phần trăm so với tháng trước. Giá thực phẩm giảm 0,4%, cùng mức giảm so với tháng trước, kéo CPI so với tháng trước giảm khoảng 0,07 điểm phần trăm. Trong nhóm thực phẩm, rau quả theo mùa dồi dào, giá rau tươi và trái cây giảm lần lượt 1,0% và 2,0%, cùng tác động làm CPI so với tháng trước giảm khoảng 0,06 điểm phần trăm; giá thịt lợn và thủy sản giảm lần lượt 0,8% và 0,6%, cùng kéo CPI so với tháng trước giảm khoảng 0,02 điểm phần trăm; tồn đàn gà đẻ ở mức thấp, cộng với tỷ lệ đẻ trứng giảm do nhiệt độ cao, khiến giá trứng tăng 7,0%, tác động làm CPI so với tháng trước tăng khoảng 0,03 điểm phần trăm. Giá dịch vụ đi ngang sau khi giảm 0,1% tháng trước. Trong dịch vụ, chịu ảnh hưởng của các yếu tố như hãng hàng không giảm phụ phí nhiên liệu và nhu cầu du lịch trái vụ thu hẹp, giá khách sạn, vé máy bay và phí đại lý du lịch giảm lần lượt 5,3%, 4,0% và 0,7%, tổng cộng kéo CPI so với tháng trước giảm khoảng 0,04 điểm phần trăm; chịu tác động của điều chỉnh giá theo chính sách ở một số địa phương, giá dịch vụ y tế cả nước tăng 0,3%, đóng góp khoảng 0,02 điểm phần trăm vào mức tăng CPI so với tháng trước.

Trên cơ sở so với cùng kỳ năm trước, CPI cả nước tăng 1,0%, tốc độ tăng giảm 0,2 điểm phần trăm so với tháng trước. Do yếu tố nhập khẩu quốc tế, mức tăng giá hàng tiêu dùng công nghiệp trong nước thu hẹp. Giá hàng tiêu dùng công nghiệp tăng 2,9%, tốc độ tăng giảm 1,0 điểm phần trăm so với tháng trước, đóng góp khoảng 0,90 điểm phần trăm vào mức tăng CPI so với cùng kỳ, và hiệu ứng đẩy tăng CPI giảm khoảng 0,28 điểm phần trăm so với tháng trước. Trong hàng tiêu dùng công nghiệp, mức tăng giá trang sức vàng và xăng giảm lần lượt xuống còn 28,1% và 17,0%, cùng đóng góp khoảng 0,60 điểm phần trăm vào mức tăng CPI so với cùng kỳ, và hiệu ứng đẩy tăng CPI giảm khoảng 0,23 điểm phần trăm so với tháng trước; giá sản phẩm chăm sóc cá nhân và đồ gia dụng tăng lần lượt 2,3% và 2,2%, cả hai đều giảm tốc độ tăng. Giá dịch vụ tăng 0,8%, cùng tốc độ tăng so với tháng trước, đóng góp khoảng 0,40 điểm phần trăm vào mức tăng CPI so với cùng kỳ. Trong dịch vụ, giá dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục tăng lần lượt 3,4% và 0,6%. Giá dịch vụ giúp việc nhà và ăn uống ngoài gia đình tăng lần lượt 1,4% và 1,1%, tốc độ tăng nhìn chung ổn định. Giá thực phẩm giảm 1,6%, mức giảm thu hẹp 0,1 điểm phần trăm so với tháng trước, kéo CPI so với cùng kỳ giảm khoảng 0,28 điểm phần trăm. Trong thực phẩm, giá thịt lợn giảm 15,9%, mức giảm thu hẹp 0,2 điểm phần trăm so với tháng trước, kéo CPI so với cùng kỳ giảm khoảng 0,30 điểm phần trăm; giá rau tươi, trái cây tươi, ngũ cốc, dầu ăn, sản phẩm sữa và thủy sản giảm trong khoảng 0,3% đến 1,7%; giá trứng tăng 20,0%, tốc độ tăng mở rộng thêm 11,6 điểm phần trăm so với tháng trước; giá thịt cừu, thịt bò và thịt gia cầm tăng trong khoảng 1,4% đến 6,0%.

2. Mức Tăng PPI So Với Cùng Kỳ Mở Rộng Nhẹ

Trên cơ sở so với tháng trước, PPI cả nước giảm 0,3%. Đặc điểm chính của biến động PPI so với tháng trước trong tháng này: Thứ nhất, giá dầu thô quốc tế giảm kéo giảm giá các ngành liên quan trong nước. Giá khai thác dầu mỏ giảm 16,0% so với tháng trước, giá sản xuất sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 3,1%, mức giảm lần lượt mở rộng 14,2 và 2,8 điểm phần trăm so với tháng trước. Giá sản xuất nguyên liệu hóa chất và sản phẩm hóa chất, cũng như sản xuất sợi hóa học, từ tăng trong tháng trước chuyển sang giảm lần lượt 2,0% và 0,8%. Thứ hai, chịu ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ, xu hướng giá ở một số ngành phân hóa. Tháng 6, nhiệt độ tăng cao thúc đẩy nhu cầu dự trữ than cho cao điểm mùa hè và các sản phẩm làm mát tăng. Giá khai thác và sàng tuyển than tăng 5,6% so với tháng trước, thiết bị điện lạnh gia dụng tăng 0,6%, thiết bị làm lạnh và điều hòa không khí tăng 0,4%. Lượng mưa, ánh nắng và gió dồi dào vào mùa hè dẫn đến giá thủy điện, điện mặt trời và điện gió giảm, lần lượt giảm 9,1%, 2,5% và 2,2%. Thứ ba, nâng cấp công nghiệp tăng tốc thúc đẩy nhu cầu và đẩy giá một số lĩnh vực. Với các kịch bản ứng dụng AI không ngừng mở rộng, việc ứng dụng rộng rãi nguyên liệu mới và vật liệu tiên tiến, tiến triển bền vững trong chuyển đổi xanh, giá sản xuất thiết bị thực tế ảo tăng 8,4% so với tháng trước, sản xuất thiết bị thông minh đeo tăng 3,4%, máy tính điều khiển công nghiệp và hệ thống tăng 3,3%, sản xuất robot công nghiệp tăng 0,5%. Giá vật liệu chuyên dụng điện tử tăng 2,5%, vật liệu nano gốc carbon tăng 1,9%, chế biến nhiên liệu sinh khối tăng 1,2%, ngành tận dụng tổng hợp tài nguyên chất thải tăng 0,4%.

Trên cơ sở so với cùng kỳ năm trước, PPI cả nước tăng 4,1%, tốc độ tăng mở rộng 0,2 điểm phần trăm so với tháng trước. Trong số các ngành ghi nhận giá tăng, khai thác và sàng tuyển than tăng 20,6%, sản xuất máy móc thiết bị điện tăng 5,1%, sản xuất máy tính, thiết bị truyền thông và thiết bị điện tử khác tăng 3,3%, luyện và cán kim loại đen tăng 3,1%, đều có tốc độ tăng mở rộng hơn so với tháng trước. Bốn ngành này cùng đóng góp khoảng 1,39 điểm phần trăm vào mức tăng PPI so với cùng kỳ. Khai thác và tuyển quặng kim loại màu, cùng với luyện và cán kim loại màu tăng lần lượt 25,5% và 23,4%. Khai thác dầu khí, chế biến dầu mỏ, than và nhiên liệu khác, sản xuất nguyên liệu hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng lần lượt 16,8%, 16,7% và 11,3%, cả ba đều có tốc độ tăng giảm so với tháng trước. Năm ngành này cùng đóng góp khoảng 3,25 điểm phần trăm vào mức tăng PPI so với cùng kỳ. Trong số các ngành ghi nhận giá giảm, sản phẩm khoáng phi kim giảm 4,4%, mức giảm thu hẹp 0,7 điểm phần trăm so với tháng trước. Sản xuất và cung cấp điện, nhiệt giảm 4,4%, không thay đổi so với tháng trước. Sản xuất đồ uống có cồn và chè tinh chế, cùng với sản xuất ô tô giảm lần lượt 5,3% và 2,1%, mức giảm mở rộng lần lượt 3,4 và 0,1 điểm phần trăm so với tháng trước. Bốn ngành này cùng kéo giảm PPI so với cùng kỳ khoảng 0,72 điểm phần trăm.

Tuyên bố về Nguồn Dữ liệu: Ngoại trừ thông tin công khai, tất cả dữ liệu khác được SMM xử lý dựa trên thông tin công khai, giao tiếp thị trường và dựa trên mô hình cơ sở dữ liệu nội bộ của SMM. Chúng chỉ mang tính chất tham khảo và không cấu thành khuyến nghị ra quyết định.

Hình ảnh trong bài viết này có chú thích được AI dịch, chỉ để tham khảo.

Để biết thêm thông tin hoặc có thắc mắc gì, vui lòng liên hệ: lemonzhao@smm.cn
Để biết thêm thông tin về cách truy cập báo cáo nghiên cứu, vui lòng liên hệ:service.en@smm.cn