Số liệu từ Tổng cục Thống kê Quốc gia (NBS) cho thấy, tháng 6/2026, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Trung Quốc tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, CPI khu vực thành thị tăng 1,0%, trong khi CPI nông thôn tăng 0,8%; giá thực phẩm giảm 1,6%, giá phi thực phẩm tăng 1,5%; giá hàng tiêu dùng tăng 1,1%, giá dịch vụ tăng 0,8%. Tính chung 6 tháng đầu năm, CPI cả nước tăng bình quân 1,0% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng 6, CPI cả nước giảm 0,3% so với tháng trước. Trong đó, CPI thành thị giảm 0,4%, CPI nông thôn giảm 0,3%; giá thực phẩm giảm 0,4%, giá phi thực phẩm giảm 0,3%; giá hàng tiêu dùng giảm 0,6%, giá dịch vụ không đổi. Số liệu của NBS cũng cho thấy, tháng 6/2026, giá sản xuất công nghiệp của Trung Quốc tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước, nhưng giảm 0,3% so với tháng trước. Giá mua vào của nhà sản xuất công nghiệp tăng 6,4% so với cùng kỳ năm trước, giảm 0,2% so với tháng trước. Tính chung nửa đầu năm, giá sản xuất công nghiệp tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước, trong khi giá mua vào của nhà sản xuất công nghiệp tăng 2,4%. Bà Đổng Lệ Quyên, chuyên gia thống kê cao cấp tại Cục Đô thị, Tổng cục Thống kê Quốc gia, đã phân tích số liệu CPI và PPI tháng 6/2026.
Tháng 6/2026 CPI tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước
Trong tháng 6/2026, CPI cả nước tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, CPI khu vực thành thị tăng 1,0%, trong khi CPI nông thôn tăng 0,8%; giá thực phẩm giảm 1,6%, giá phi thực phẩm tăng 1,5%; giá hàng tiêu dùng tăng 1,1%, giá dịch vụ tăng 0,8%. Tính chung 6 tháng đầu năm, CPI cả nước tăng bình quân 1,0% so với cùng kỳ năm trước.
Trong tháng 6, CPI cả nước giảm 0,3% so với tháng trước. Trong đó, CPI thành thị giảm 0,4%, CPI nông thôn giảm 0,3%; giá thực phẩm giảm 0,4%, giá phi thực phẩm giảm 0,3%; giá hàng tiêu dùng giảm 0,6%, giá dịch vụ không đổi.

I. Biến động giá so với cùng kỳ năm trước theo nhóm hàng
Trong tháng 6, giá nhóm thực phẩm, thuốc lá và rượu, và ăn uống ngoài gia đình giảm 0,8% so với cùng kỳ năm trước, góp phần kéo giảm CPI khoảng 0,24 điểm phần trăm. Trong đó, giá thịt gia súc giảm 7,3%, kéo CPI giảm khoảng 0,30 điểm phần trăm, trong đó giá thịt lợn giảm 15,9%; giá sữa giảm 1,7%, kéo CPI giảm khoảng 0,02 điểm phần trăm; giá hoa quả tươi giảm 0,7%, góp phần kéo giảm khoảng 0,01 điểm phần trăm; giá trứng tăng 16,0%, góp phần tăng thêm khoảng 0,08 điểm phần trăm vào mức tăng CPI.
Trong 7 nhóm hàng còn lại, có 6 nhóm tăng giá và 1 nhóm giảm giá so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, giá nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 6,6%, giao thông vận tải và thông tin liên lạc tăng 4,1%, chăm sóc sức khỏe tăng 2,3%; nhóm may mặc và giáo dục, văn hóa, giải trí đều tăng 1,4%; nhóm thiết bị và dịch vụ gia đình tăng 1,3%; giá nhà ở giảm 0,3%.

II. Biến động giá cả hàng hóa và dịch vụ so với tháng trước
Trong tháng 6, giá lương thực-thực phẩm, thuốc lá, rượu và ăn uống ngoài gia đình giảm 0,3% so với tháng trước, tác động làm CPI giảm khoảng 0,08 điểm phần trăm. Trong nhóm thực phẩm, giá trái cây tươi giảm 2,0%, kéo CPI giảm khoảng 0,04 điểm phần trăm; giá rau tươi giảm 1,0%, kéo CPI giảm khoảng 0,02 điểm phần trăm; giá thịt gia súc, gia cầm giảm 0,5%, kéo CPI giảm khoảng 0,02 điểm phần trăm, trong đó giá thịt lợn giảm 0,8%; giá trứng tăng 5,8%, tác động làm CPI tăng khoảng 0,03 điểm phần trăm.
Bảy nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có một nhóm tăng, hai nhóm không đổi và bốn nhóm giảm so với tháng trước. Cụ thể: giá y tế tăng 0,2%; giá nhà ở và giáo dục, văn hóa, giải trí không đổi; giá hàng hóa và dịch vụ khác và giao thông liên lạc lần lượt giảm 2,7% và 1,3%; giá đồ gia dụng và dịch vụ và may mặc lần lượt giảm 0,2% và 0,1%.


PPI tháng 6 năm 2026 tăng 4,1% so với cùng kỳ và giảm 0,3% so với tháng trước
Tháng 6/2026, chỉ số giá sản xuất (PPI) của Trung Quốc tăng 4,1% so với cùng kỳ và giảm 0,3% so với tháng trước. Chỉ số giá thu mua sản xuất tăng 6,4% so với cùng kỳ và giảm 0,2% so với tháng trước. Trong nửa đầu năm, PPI tăng 1,5% so với cùng kỳ và chỉ số giá thu mua sản xuất tăng 2,4%.


I. Biến động giá sản xuất so với cùng kỳ năm trước
Trong tháng 6, trong PPI, giá tư liệu sản xuất tăng 5,5% so với cùng kỳ, đóng góp vào mức tăng chung của PPI khoảng 4,28 điểm phần trăm. Trong đó, giá ngành khai thác mỏ tăng 16,5%, giá nguyên vật liệu tăng 8,6%, và giá ngành chế biến tăng 3,0%. Giá hàng tiêu dùng giảm 0,9%, kéo chỉ số PPI chung giảm khoảng 0,20 điểm phần trăm. Trong đó, giá thực phẩm giảm 2,1%, giá may mặc và hàng tiêu dùng hàng ngày đều giảm 1,0%, và giá hàng tiêu dùng lâu bền tăng 0,1%.


Trong chỉ số giá mua sản xuất, giá nguyên vật liệu và dây dẫn kim loại màu tăng 21,6%, giá nhiên liệu và năng lượng tăng 11,8%, giá nguyên liệu hóa chất tăng 11,5%, giá nguyên liệu dệt may tăng 3,3% và giá nguyên liệu kim loại đen tăng 1,3%; giá vật liệu xây dựng và khoáng sản phi kim loại giảm 4,8% và giá nông sản và phụ phẩm giảm 1,3%.
II. Biến động giá sản xuất công nghiệp so với tháng trước
Trong tháng 6, đối với giá xuất xưởng sản xuất công nghiệp, giá tư liệu sản xuất giảm 0,3% so với tháng trước, kéo chỉ số giá xuất xưởng sản xuất công nghiệp tổng thể giảm khoảng 0,25 điểm phần trăm. Trong đó, giá ngành khai khoáng giảm 0,9%, giá ngành nguyên liệu giảm 1,2% và giá ngành chế biến tăng 0,2%. Giá hàng tiêu dùng giảm 0,3%, kéo chỉ số giá xuất xưởng sản xuất công nghiệp tổng thể giảm khoảng 0,06 điểm phần trăm. Trong nhóm này, giá thực phẩm giảm 0,8%, giá quần áo và hàng tiêu dùng lâu bền giữ nguyên, và giá đồ dùng sinh hoạt hàng ngày giảm 0,1%.
Trong giá mua sản xuất công nghiệp, giá nguyên liệu hóa chất giảm 1,3%, giá nhiên liệu và năng lượng giảm 0,5%, giá vật liệu xây dựng và sản phẩm phi kim loại giảm 0,4% và giá nông sản và phụ phẩm giảm 0,3%; giá nguyên liệu dệt may tăng 0,7%, giá nguyên vật liệu và dây dẫn kim loại màu tăng 0,1%; giá nguyên liệu kim loại đen giữ nguyên.


CPI duy trì mức tăng nhẹ so với cùng kỳ và PPI tăng nhẹ so với cùng kỳ trong tháng 6/2026
— Diễn giải số liệu CPI và PPI tháng 6/2026 của bà Đổng Lệ Quyên, Chuyên viên thống kê trưởng Văn phòng Điều tra Đô thị, Tổng cục Thống kê Quốc gia
Trong tháng 6, do ảnh hưởng của các yếu tố mùa vụ và biến động giá thị trường quốc tế, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) giảm 0,3% so với tháng trước, tăng 1,0% so với cùng kỳ và CPI lõi không bao gồm giá thực phẩm và năng lượng tăng 1,0% so với cùng kỳ, duy trì mức tăng nhẹ. Nhu cầu trong nước tăng ở một số ngành, nhưng do các yếu tố như giá dầu thô quốc tế giảm, chỉ số giá xuất xưởng sản xuất công nghiệp (PPI) giảm 0,3% so với tháng trước và tăng 4,1% so với cùng kỳ.
I. CPI duy trì mức tăng nhẹ
So với tháng trước, CPI cả nước giảm 0,3%. Do ảnh hưởng của biến động giá thị trường quốc tế, giá vàng trang sức và xăng trong nước lần lượt giảm 8,7% và 4,9%, với mức giảm lần lượt mở rộng thêm 5,9 và 4,6 điểm phần trăm so với tháng trước, cùng kéo CPI giảm khoảng 0,22 điểm phần trăm so với tháng trước và mức giảm kéo CPI này tăng khoảng 0,19 điểm phần trăm so với tháng trước. Giá thực phẩm giảm 0,4%, mức giảm tương đương tháng trước, góp phần làm CPI so với tháng trước giảm khoảng 0,07 điểm phần trăm. Trong nhóm thực phẩm, rau quả theo mùa vào vụ thu hoạch với số lượng lớn, nguồn cung dồi dào, giá rau tươi và trái cây tươi lần lượt giảm 1,0% và 2,0%, cùng kéo CPI so với tháng trước giảm khoảng 0,06 điểm phần trăm; giá thịt lợn và thủy sản giảm lần lượt 0,8% và 0,6%, cùng kéo CPI so với tháng trước giảm khoảng 0,02 điểm phần trăm; lượng gà đẻ tồn chuồng duy trì ở mức thấp, cộng thêm nhiệt độ cao làm giảm tỷ lệ đẻ trứng, giá trứng tăng 7,0%, góp phần làm CPI so với tháng trước tăng khoảng 0,03 điểm phần trăm. Giá dịch vụ đi ngang so với tháng trước, sau khi giảm 0,1% trong tháng trước. Trong nhóm dịch vụ, do các hãng hàng không hạ phụ phí nhiên liệu và nhu cầu du lịch trái mùa giảm, giá lưu trú khách sạn, vé máy bay và phí dịch vụ lữ hành lần lượt giảm 5,3%, 4,0% và 0,7%, cùng góp phần làm CPI so với tháng trước giảm khoảng 0,04 điểm phần trăm. Do điều chỉnh giá theo chính sách tại một số địa phương, giá dịch vụ y tế toàn quốc tăng 0,3% so với tháng trước, góp phần làm CPI so với tháng trước tăng khoảng 0,02 điểm phần trăm.
So với cùng kỳ năm trước, CPI toàn quốc tăng 1,0%, tốc độ tăng thu hẹp 0,2 điểm phần trăm so với tháng trước. Yếu tố nhập khẩu quốc tế dẫn đến giá hàng tiêu dùng công nghiệp trong nước tăng chậm lại. Giá hàng tiêu dùng công nghiệp tăng 2,9% so với cùng kỳ, tốc độ tăng thu hẹp 1,0 điểm phần trăm so với tháng trước, đóng góp khoảng 0,90 điểm phần trăm vào mức tăng CPI so với cùng kỳ. Lực kéo CPI tăng thấp hơn khoảng 0,28 điểm phần trăm so với tháng trước. Trong nhóm hàng tiêu dùng công nghiệp, giá vàng trang sức và xăng dầu có tốc độ tăng so với cùng kỳ lần lượt giảm xuống còn 28,1% và 17,0%, cùng đóng góp khoảng 0,60 điểm phần trăm vào mức tăng CPI so với cùng kỳ. Lực kéo CPI tăng thấp hơn khoảng 0,23 điểm phần trăm so với tháng trước. Giá sản phẩm chăm sóc cá nhân và đồ gia dụng lần lượt tăng 2,3% và 2,2% so với cùng kỳ, tốc độ tăng đều chậm lại. Giá dịch vụ tăng 0,8% so với cùng kỳ, tốc độ tăng tương đương tháng trước, đóng góp khoảng 0,40 điểm phần trăm vào mức tăng CPI so với cùng kỳ. Trong lĩnh vực dịch vụ, giá dịch vụ y tế và giáo dục lần lượt tăng 3,4% và 0,6%, trong khi giá dịch vụ gia đình và ăn uống ngoài gia đình tăng lần lượt 1,4% và 1,1%, tốc độ tăng trưởng nhìn chung ổn định. Giá thực phẩm giảm 1,6% so với cùng kỳ năm trước, mức giảm thu hẹp 0,1 điểm phần trăm so với tháng trước, kéo CPI giảm khoảng 0,28 điểm phần trăm so với cùng kỳ. Trong các mặt hàng thực phẩm, giá thịt lợn giảm 15,9% so với cùng kỳ, mức giảm thu hẹp 0,2 điểm phần trăm so với tháng trước, đóng góp khoảng 0,30 điểm phần trăm vào mức giảm CPI so với cùng kỳ. Giá rau tươi, trái cây tươi, ngũ cốc, dầu ăn, sản phẩm sữa và thủy sản giảm từ 0,3% đến 1,7% so với cùng kỳ. Giá trứng tăng 20,0% so với cùng kỳ, mức tăng mở rộng thêm 11,6 điểm phần trăm so với tháng trước. Giá thịt cừu, thịt bò và thịt gia cầm tăng từ 1,4% đến 6,0% so với cùng kỳ.
II. Tăng trưởng PPI so với cùng kỳ mở rộng nhẹ
So với tháng trước, PPI cả nước giảm 0,3%. Những đặc điểm chính của biến động PPI tháng này như sau: Thứ nhất, giá dầu thô quốc tế giảm kéo giá các ngành liên quan trong nước đi xuống. Giá khai thác dầu giảm 16,0% so với tháng trước, giá sản xuất sản phẩm lọc dầu giảm 3,1%, mức giảm lần lượt mở rộng 14,2 và 2,8 điểm phần trăm so với tháng trước. Giá ngành nguyên liệu và sản phẩm hóa chất, ngành sản xuất sợi hóa học từ tăng tháng trước chuyển sang giảm lần lượt 2,0% và 0,8%. Thứ hai, do yếu tố mùa vụ, xu hướng giá một số ngành phân hóa. Tháng 6, nhiệt độ tăng cao, nhu cầu than cho cao điểm hè và sản phẩm làm mát tăng, giá ngành khai thác và tuyển than tăng 5,6% so với tháng trước, giá sản xuất thiết bị làm lạnh gia dụng tăng 0,6%, giá sản xuất thiết bị làm lạnh và điều hòa không khí tăng 0,4%; mùa hè mưa nhiều, ánh nắng và gió dồi dào, giá thủy điện, điện mặt trời và điện gió giảm lần lượt 9,1%, 2,5% và 2,2%. Thứ ba, nâng cấp công nghiệp tăng tốc thúc đẩy nhu cầu và giá một số ngành tăng. Các kịch bản ứng dụng AI tiếp tục mở rộng, nguyên liệu mới và vật liệu mới được áp dụng rộng rãi, chuyển đổi xanh không ngừng tiến triển, đẩy giá ngành sản xuất thiết bị thực tế ảo tăng 8,4% so với tháng trước, sản xuất thiết bị thông minh đeo tăng 3,4%, sản xuất máy tính và hệ thống điều khiển công nghiệp tăng 3,3%, sản xuất robot công nghiệp tăng 0,5%; giá ngành sản xuất vật liệu điện tử đặc biệt tăng 2,5%, vật liệu nano carbon tăng 1,9%, chế biến nhiên liệu sinh khối tăng 1,2%; ngành tận dụng tổng hợp tài nguyên phế thải tăng 0,4%.
So với cùng kỳ năm trước, chỉ số PPI toàn quốc tăng 4,1%, mức tăng mở rộng thêm 0,2 điểm phần trăm so với tháng trước. Trong các ngành có giá tăng, khai thác và sàng tuyển than tăng 20,6%, sản xuất máy móc và thiết bị điện tăng 5,1%, sản xuất máy tính, thiết bị truyền thông và thiết bị điện tử khác tăng 3,3%, luyện và cán kim loại đen tăng 3,1%, đều có mức tăng mở rộng so với tháng trước; bốn ngành này cùng đóng góp khoảng 1,39 điểm phần trăm vào mức tăng PPI so với cùng kỳ. Khai thác và tuyển quặng kim loại màu và luyện, cán kim loại màu tăng lần lượt 25,5% và 23,4%; khai thác dầu mỏ và khí tự nhiên, chế biến dầu mỏ, than và các nhiên liệu khác, sản xuất nguyên liệu hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng lần lượt 16,8%, 16,7% và 11,3%, với mức tăng thu hẹp so với tháng trước; năm ngành này cùng đóng góp khoảng 3,25 điểm phần trăm vào mức tăng PPI so với cùng kỳ. Trong các ngành có giá giảm, sản phẩm khoáng phi kim loại giảm 4,4%, mức giảm thu hẹp 0,7 điểm phần trăm so với tháng trước; sản xuất và cung cấp điện, nhiệt giảm 4,4%, mức giảm không đổi so với tháng trước; sản xuất rượu, đồ uống và chè tinh chế và sản xuất ô tô giảm lần lượt 5,3% và 2,1%, mức giảm mở rộng lần lượt 3,4 và 0,1 điểm phần trăm so với tháng trước; bốn ngành này cùng đóng góp khoảng 0,72 điểm phần trăm vào mức giảm PPI so với cùng kỳ.


![SHFE nhôm giằng co giữa phe mua và phe bán, đi ngang; alumin chịu áp lực giảm [Bình luận ngắn hợp đồng tương lai nhôm SMM]](https://imgqn.smm.cn/usercenter/wStpx20251217171650.jpg)
