Đánh giá phí bảo hiểm giao ngay cho đồng cathode nửa đầu năm 2026 và triển vọng nửa cuối năm [Phân tích SMM]

Đã xuất bản: Jul 6, 2026 09:20
[SMM Analysis] Phí bảo hiểm giao ngay đồng cathode trên SHFE biến động mạnh trong nửa đầu năm 2026, với các giai đoạn chiết khấu sâu, phục hồi trong quý 2 và quay về vùng dương vào giữa năm. Quý 1, tích tụ tồn kho mùa vụ sau Tết Nguyên đán, phục hồi tiêu thụ hạ nguồn chậm và gián đoạn do đáo hạn hợp đồng liên tục gây áp lực lên phí bảo hiểm. Bước sang quý 2, tiêu thụ cải thiện theo quý, các nhà máy luyện tập trung bảo trì khiến tồn kho xã hội trong nước giảm bền vững. Đặc biệt, tồn kho Quảng Đông giảm nhanh đã nâng phí bảo hiểm tại miền Nam, mở ra cơ hội kinh doanh chênh lệch giá khi vận chuyển hàng từ Đông sang Nam Trung Quốc, qua đó hỗ trợ phí bảo hiểm ở Thượng Hải và các khu vực khác. Từ tháng 5 đến tháng 6, dù giá đồng cao và kỳ vọng bước vào mùa tiêu thụ thấp điểm kìm hãm mua sắm hạ nguồn, nhưng chênh lệch giữa LME và COMEX mở rộng đã chuyển hướng nguồn cung nước ngoài sang Mỹ, hạn chế tốc độ nhập khẩu bổ sung vào Trung Quốc, trong khi tồn kho thấp vẫn duy trì sức chống chịu của thị trường giao ngay. Nhìn sang nửa cuối năm, phí bảo hiểm đồng SHFE sẽ chịu tác động tổng hòa từ tồn kho, tiêu thụ, nhập khẩu và nguồn cung mới. Mùa thấp điểm quý 3 có thể hạn chế đà tăng của phí bảo hiểm, nhưng tồn kho thấp, sự bất định về bổ sung nhập khẩu và nguồn cung khu vực thắt chặt sẽ tiếp tục nâng đỡ phí bảo hiểm giao ngay. Bước sang quý 4, cần chú ý đến quá trình nâng công suất tại các dự án mở rộng như Humon giai đoạn 2, Chifeng Jintong giai đoạn 2 và Shenghai giai đoạn 2. Nếu nguồn cung mới vào cuộc thuận lợi, cửa sổ nhập khẩu mở ra và phục hồi tiêu thụ vẫn yếu, phí bảo hiểm giao ngay có thể dần chịu sức ép. Tuy nhiên, nếu tồn kho duy trì ở mức thấp và lượng bổ sung từ nhập khẩu hạn chế, phí bảo hiểm vẫn có thể có những đợt tăng mạnh gián đoạn.

 

       Trong nửa đầu năm 2026, phí chênh lệch giao ngay đồng cathode trên SHFE dao động đáng kể, thể hiện các đặc điểm “biến động cao, chiết khấu sâu theo chu kỳ, phục hồi trong quý 2 và trở lại mức chênh lệch dương vào giữa năm.”

       Quanh dịp Tết Nguyên Đán, phí chênh lệch giao ngay biến động mạnh hơn do nhu cầu dự trữ của hạ nguồn, đáo hạn hợp đồng và thay đổi tồn kho. Sau kỳ nghỉ, khi tồn kho xã hội tăng theo mùa và quá trình phục hồi của hạ nguồn chậm, thị trường giao ngay từng chịu áp lực và suy yếu. Sang quý 2, khi tồn kho xã hội tiếp tục giảm, đặc biệt là mức giảm nhanh tại Quảng Đông, phí chênh lệch giao ngay ở Nam Trung Quốc tăng mạnh, mở ra cơ hội kinh doanh chênh lệch giá để chuyển hàng từ Đông Trung Quốc vào Nam, gián tiếp đẩy phí chênh lệch giao ngay tại Thượng Hải lên. Trong tháng 5-6, dù giá đồng cao và kỳ vọng mùa thấp điểm làm suy yếu sức mua của hạ nguồn, chênh lệch giá COMEX-LME tiếp tục mở rộng. Điều này thúc đẩy dòng hàng từ bên ngoài Trung Quốc chảy sang thị trường Mỹ, làm gián đoạn nhịp nhập khẩu đồng vào Trung Quốc. Môi trường tồn kho nội địa thấp vẫn hỗ trợ phí chênh lệch giao ngay.

       Nhìn chung, phí chênh lệch đồng SHFE nửa đầu năm 2026 không chỉ đơn thuần phụ thuộc vào sức mạnh tiêu thụ tại Thượng Hải, mà được định hình bởi sự kết hợp của tồn kho nội địa thấp, phân hóa tồn kho vùng, kinh doanh chênh lệch tồn kho liên vùng, khả năng bổ sung đồng nhập khẩu hạn chế và thay đổi chênh lệch giá ở nước ngoài. Tồn kho thấp tạo nền tảng hỗ trợ cho thị trường giao ngay. Phí chênh lệch cao tại Quảng Đông là động lực chính cho sự phục hồi phí chênh lệch trong quý 2. Chênh lệch COMEX-LME nới rộng làm giảm khả năng đồng nhập khẩu bổ sung cho thị trường nội địa, khiến phí chênh lệch đồng SHFE thể hiện sức chống chịu ngay cả khi tiêu thụ suy yếu ở biên.

1. Nhìn lại phí chênh lệch đồng SHFE trong nửa đầu năm

Tháng 1: Dự trữ trước kỳ nghỉ và gián đoạn đáo hạn hợp đồng khuếch đại biến động phí chênh lệch

      Tháng 1 năm 2026, phí chênh lệch giao ngay đồng SHFE biến động rất mạnh. Đầu tháng, thị trường vẫn trong giai đoạn dự trữ trước kỳ nghỉ và một số doanh nghiệp hạ nguồn vẫn có nhu cầu bổ sung hàng trước Tết Nguyên Đán. Cùng với việc đáo hạn hợp đồng và thay đổi tạm thời trong cơ cấu nguồn cung, phí chênh lệch giao ngay tạm thời tăng lên. Tuy nhiên, khi kỳ nghỉ đến gần, các doanh nghiệp hạ nguồn dần ngừng hoạt động, giao dịch thị trường trở nên thưa thớt và các thương nhân chịu áp lực bán ra gia tăng. Điều này khiến mức cộng giao ngay nhanh chóng thu hẹp và chuyển sang mức trừ.

       Từ góc độ diễn biến thị trường, những biến động nhanh của mức cộng trong tháng 1 phản ánh sự điều chỉnh nhịp độ giao dịch trước kỳ nghỉ và gián đoạn từ phía cung hơn là sự cải thiện bền vững trong tiêu dùng. Trong giai đoạn cuối trước Tết Nguyên Đán, lượng mua ở hạ nguồn dần thu hẹp, nhu cầu mua trên thị trường giảm, và các nhà cung cấp chủ động hạ giá chào để thúc đẩy giao dịch, khiến mức trừ giao ngay ngày càng mở rộng. Điều này cũng đặt nền tảng cho quá trình tích trữ tồn kho theo mùa sau Tết và thị trường giao ngay quý 1 ảm đạm.

Tồn kho tăng sau Tết gây sức ép lên giá giao ngay; Phục hồi mức cộng thiếu bền vững, tháng 2-tháng 3

      Sau Tết Nguyên Đán, tồn kho xã hội đồng cathode của Trung Quốc bước vào chu kỳ tích trữ theo mùa, trong khi các doanh nghiệp hạ nguồn phục hồi sản xuất với tốc độ tương đối chậm và các đơn hàng tiêu dùng cuối cần thời gian để phục hồi. Trong bối cảnh tốc độ tích lũy tồn kho vượt quá tốc độ phục hồi tiêu thụ, các nhà cung cấp chịu áp lực xuất hàng lớn, báo giá trên thị trường giao ngay nhìn chung chịu sức ép, và mức cộng đồng giao ngay trên SHFE từng duy trì ở mức trừ sâu.

       Vào khoảng giữa tháng 2, do ảnh hưởng của việc chuyển giao hợp đồng kỳ hạn giao hàng, tình trạng thắt chặt tạm thời nguồn hàng sẵn có và những xáo trộn tâm lý thị trường, mức cộng đã tăng vọt trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, do tiêu thụ hạ nguồn thời điểm đó vẫn chưa hồi phục hoàn toàn và áp lực tồn kho vẫn dai dẳng, mức cộng giao ngay cao không nhận được hỗ trợ giao dịch bền vững, và báo giá sau đó lại giảm trở lại. Điều này cho thấy các đợt tăng đột biến trong quý 1 trên thị trường giao ngay chủ yếu đến từ những nhiễu loạn ngắn hạn về cung và cấu trúc hợp đồng tương lai, hơn là sự cải thiện thực sự và toàn diện của tiêu dùng.

      Sau khi bước vào tháng 3, khi quá trình khôi phục hạ nguồn dần tiến triển, giao dịch thị trường giao ngay cải thiện so với sau Tết, tăng trưởng tồn kho xã hội chậm lại và dần bước vào giai đoạn đầu giảm tồn kho, mức cộng phục hồi từ các mức trừ sâu trước đó. Trong khi đó, khâu lưu thông đồng thứ cấp bị ảnh hưởng bởi các vấn đề về hóa đơn, tuân thủ thuế và ổn định nguồn cung, thúc đẩy một phần tiêu thụ dây đồng thứ cấp và các nhu cầu liên quan chuyển sang đồng cathode, nhu cầu thay thế đồng cathode tăng lên theo chu kỳ, qua đó cũng đẩy nhanh tốc độ giảm tồn kho xã hội. Tuy nhiên, do nhu cầu sử dụng cuối phục hồi chậm và giá đồng cao kìm hãm hoạt động mua vào ở hạ nguồn, thị trường chủ yếu diễn ra các giao dịch mua hàng tức thời, đà phục hồi của phí bảo hiểm cũng gặp trắc trở, nhiều lần rơi trở lại vùng chiết khấu sau khi đáo hạn hợp đồng.

      Nhìn chung, logic vận hành chính của thị trường đồng giao ngay Thượng Hải trong quý 1 là ‘áp lực tồn kho tăng cao sau kỳ nghỉ + phục hồi chậm ở hạ nguồn + nhiễu loạn từ đáo hạn và giao nhận hợp đồng’. Dù phí bảo hiểm có những đợt hồi phục định kỳ, nhưng thiếu cơ sở cho xu hướng tăng bền vững.

Giảm tồn kho kết hợp với cải thiện tiêu thụ; Trung tâm phí bảo hiểm tăng từng giai đoạn, tháng 4-5

      Sau khi bước sang quý 2, logic vận hành của thị trường đồng giao ngay Thượng Hải có những thay đổi biên. Cùng với mùa tiêu thụ cao điểm truyền thống, một số ngành hạ nguồn như dây và cáp, thanh đồng cực âm, ống và ống đồng, tấm/lá và dải đồng ghi nhận tỷ lệ hoạt động cải thiện so với quý trước, hoạt động mua sắm tức thời cho sử dụng cuối cũng phục hồi phần nào. Trong khi đó, kể từ quý 1, khâu lưu thông đồng thứ cấp chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như tuân thủ hóa đơn và thuế, đẩy một phần nhu cầu sang phía đồng cực âm và củng cố khả năng chống chịu của tiêu thụ đồng cực âm. Nhu cầu phục hồi và tiêu thụ thay thế cùng nhau thúc đẩy quá trình giảm tồn kho xã hội bền vững. Đồng thời, từ tháng 4 đến tháng 6, các nhà máy luyện kim trong nước bước vào giai đoạn bảo dưỡng tập trung hàng năm, một số nhà máy tiến hành bảo dưỡng định kỳ hoặc làm chậm tiến độ giao hàng, khiến lượng hàng đến thị trường không đạt kỳ vọng và càng thắt chặt nguồn cung sẵn có. Được thúc đẩy bởi cả nhu cầu phục hồi so với tháng trước lẫn gián đoạn từ bảo dưỡng phía cung, các nhà cung cấp tăng cường ý định giữ giá, trung tâm phí bảo hiểm giao ngay dịch chuyển lên trên.

       Ngoài ra, quá trình giảm tồn kho liên tục tại Quảng Đông và phí bảo hiểm giao ngay cao ở miền Nam Trung Quốc cũng là những động lực quan trọng. Trong quý 2, tiêu thụ hạ nguồn ở miền Nam Trung Quốc phục hồi so với tháng trước, kết hợp với tốc độ nhập hàng chậm trong mùa bảo dưỡng luyện kim, khiến tồn kho xã hội Quảng Đông liên tục sụt giảm. Nguồn cung sẵn có trong khu vực thắt chặt rõ rệt, củng cố tâm lý giữ giá của nhà cung cấp, và phí bảo hiểm giao ngay tại Quảng Đông có thời điểm cao hơn đáng kể so với Thượng Hải. Trong bối cảnh đó, chênh lệch giá giữa miền Đông và miền Nam Trung Quốc dần mở rộng, tạo ra một số cơ hội kinh doanh chênh lệch giá cho việc luân chuyển hàng tồn kho. Kỳ vọng một số lô hàng sẽ chuyển từ miền Đông sang miền Nam tăng lên, ảnh hưởng nhẹ đến nguồn cung sẵn có tại thị trường Thượng Hải và gián tiếp đẩy phí bảo hiểm giao ngay Thượng Hải tăng.

       Động lực cốt lõi khiến phí bảo hiểm mạnh lên trong giai đoạn này không hẳn là sự bùng nổ toàn diện của nhu cầu mà phản ánh nhiều hơn độ co giãn của giá giao ngay được khuếch đại trong môi trường tồn kho thấp. Một mặt, khi tồn kho xã hội giảm, lượng hàng sẵn có cho thương nhân và doanh nghiệp hạ nguồn giảm, và các lô hàng giá thấp được giao dịch nhanh chóng. Mặt khác, bảo trì lò luyện kim dẫn đến việc giảm định kỳ lượng xuất hàng, cộng với tốc độ đến không ổn định của một số đồng nhập khẩu, đóng cửa định kỳ của cửa sổ nhập khẩu hoặc thua lỗ mở rộng, việc bổ sung nguồn giao ngay trong nước hạn chế càng củng cố ý định giữ giá cứng của nhà cung cấp.

        Nhìn chung, thị trường đồng giao ngay Thượng Hải trong quý 2 dần chuyển từ trạng thái “áp lực tồn kho chi phối” của quý 1 sang “hỗ trợ bởi logic giảm tồn kho”. Cụ thể, cải thiện tiêu thụ so với tháng trước cung cấp nền tảng nhu cầu, bảo trì lò luyện tập trung làm chậm bổ sung nguồn cung, và giảm tồn kho nhanh tại Quảng Đông khuếch đại độ co giãn phí bảo hiểm khu vực, cùng nhau thúc đẩy một sự dịch chuyển tăng theo từng giai đoạn trong trung tâm phí bảo hiểm đồng SHFE vào tháng 4-tháng 5.

Tháng 5-Tháng 6: Giá đồng cao và kỳ vọng mùa thấp điểm kìm hãm hoạt động thu mua; Biến động phí bảo hiểm gia tăng

       Từ cuối tháng 5 đến tháng 6, thị trường đồng giao ngay Thượng Hải bước vào giai đoạn mà các yếu tố tăng giá và giảm giá đan xen. Một mặt, khi mùa tiêu thụ thấp điểm truyền thống đến gần, tác động kìm hãm của giá đồng cao lên tâm lý thu mua hạ nguồn càng rõ rệt. Người dùng cuối chủ yếu duy trì thu mua đúng lúc, thiếu sẵn lòng tích trữ chủ động, và hoạt động giao dịch giao ngay giảm so với tháng 4-tháng 5. Mặt khác, tồn kho xã hội trong nước vẫn duy trì tương đối thấp, và tác động của bảo trì lò luyện tập trung từ tháng 4 đến tháng 6 chưa hoàn toàn lắng xuống. Lượng hàng đến bổ sung ở một số khu vực còn hạn chế, nhà cung cấp không muốn bán giá thấp, và phí bảo hiểm không trải qua sự suy yếu mạnh một chiều.

        Trong giai đoạn này, ngoài tồn kho nội địa thấp và gián đoạn bảo trì lò luyện, sự mở rộng liên tục của chênh lệch giá COMEX-LME đã trở thành một biến số bên ngoài quan trọng ảnh hưởng đến phí bảo hiểm đồng SHFE. Trong tháng 5-6, giá đồng COMEX tương đối mạnh hơn LME, chênh lệch giá COMEX-LME tiếp tục mở rộng, và dòng chảy thương mại đồng catot ở nước ngoài thay đổi. Một số nguồn cung thương hiệu giao hàng có xu hướng chảy vào thị trường Mỹ nhiều hơn để đạt lợi nhuận giao hàng hoặc chênh lệch giá cao hơn, dẫn đến sự thắt chặt nguồn lực giao ngay ở nước ngoài dành cho thị trường châu Á và Trung Quốc.

      Xét từ góc độ nhập khẩu đồng của Trung Quốc, chênh lệch giá COMEX-LME ngày càng mở rộng đã làm suy yếu động lực để nguồn cung nước ngoài chảy vào thị trường Trung Quốc. Ngay cả khi tỷ lệ giá SHFE/LME trong nước phục hồi theo chu kỳ, lượng đồng nhập khẩu thực tế đến cảng và thông quan vẫn có độ trễ nhất định. Đối với thị trường giao ngay trong nước, điều này có nghĩa là trong bối cảnh tồn kho thấp, đồng nhập khẩu gặp khó khăn trong việc nhanh chóng bổ sung hiệu quả, lo ngại của các nhà cung cấp về việc hàng đến tập trung sau đó đã giảm bớt, và báo giá giao ngay vẫn giữ được mức hỗ trợ nhất định.

      Do đó, sức mạnh của phí bảo hiểm đồng SHFE từ tháng 5 đến tháng 6 không thể đơn giản quy cho tiêu dùng nội địa tiếp tục mạnh mẽ; đúng hơn, đó là kết quả tổng hợp của tồn kho thấp, bảo trì lò luyện kim, bổ sung nhập khẩu không đủ, và chuyển hướng nguồn cung nước ngoài. Trong bối cảnh thu mua ở hạ nguồn suy yếu, dư địa tăng của phí bảo hiểm bị hạn chế; tuy nhiên, do bổ sung nguồn cung trong nước hạn chế và đồng nhập khẩu đến không như kỳ vọng, thị trường giao ngay khó có thể nhanh chóng chuyển sang dư thừa, với phí bảo hiểm nhìn chung củng cố ở mức cao và trải qua những biến động theo chu kỳ.

II. Các động lực chính của phí bảo hiểm đồng SHFE trong nửa đầu năm

1. Tồn kho: Tồn kho thấp là yếu tố hỗ trợ chính cho phí bảo hiểm giao ngay

       Sự hỗ trợ cốt lõi cho phí bảo hiểm đồng SHFE trong nửa đầu năm đến từ biến động tồn kho. Sau Tết Nguyên Đán, tồn kho xã hội tích tụ, gây áp lực lên phí bảo hiểm giao ngay; bước vào quý 2, tồn kho tiếp tục giảm, thắt chặt nguồn cung thị trường sẵn có và tăng cường ý chí giữ giá của nhà cung cấp. Đặc biệt, tồn kho tại Quảng Đông giảm nhanh từ tháng 4 đến tháng 5, đẩy phí bảo hiểm giao ngay ở Hoa Nam lên cao đáng kể và mở ra cơ hội chênh lệch giá để di chuyển hàng tồn kho từ Hoa Đông sang Hoa Nam, gián tiếp thúc đẩy thị trường Thượng Hải. Theo quan điểm này, sự phục hồi phí bảo hiểm trong quý 2 không chỉ do tiêu dùng tại Thượng Hải, mà là kết quả tổng hợp của tồn kho thấp và các dòng chảy cung khu vực.

2. Tiêu thụ phục hồi hỗ trợ premium, giá đồng cao và chênh lệch giá kỳ hạn kiềm chế đà tăng bền vững

      Trong mùa cao điểm truyền thống quý 2, hoạt động mua theo nhu cầu tức thời của hạ nguồn phục hồi phần nào, hỗ trợ quá trình phục hồi của premium. Tuy nhiên, trong bối cảnh giá đồng ở mức cao, các doanh nghiệp hạ nguồn ít sẵn lòng chủ động bổ sung tồn kho, các giao dịch giao ngay chủ yếu dựa trên nhu cầu tức thời, khiến premium khó tăng thêm. Trong khi đó, việc đảo hạn hợp đồng, giao nhận hàng, và biến động chênh lệch giá giữa các hợp đồng đồng kỳ hạn SHFE cũng khiến biến động ngắn hạn gia tăng. Nhìn chung, tiêu thụ quyết định mức phục hồi của premium, chênh lệch giá kỳ hạn quy định nhịp độ ngắn hạn, và giá đồng cao hạn chế đà tăng bền vững của premium.

3. Nhập khẩu: Biến động biên lợi nhuận nhập khẩu ảnh hưởng đến tốc độ bổ sung nguồn cung giao ngay trong nước

      Tốc độ đồng nhập khẩu vào thị trường ảnh hưởng đáng kể đến premium đồng giao ngay trên SHFE. Khi mức lỗ nhập khẩu nới rộng và cửa sổ nhập khẩu đóng lại, động lực để nguồn cung từ nước ngoài chảy vào Trung Quốc suy yếu, bổ sung nguồn cung giao ngay trong nước hạn chế, tâm lý giữ giá của nhà cung cấp tăng lên, và premium có xu hướng được hỗ trợ. Ngược lại, khi mức lỗ nhập khẩu thu hẹp hoặc thậm chí tạm thời có lời, kỳ vọng thị trường về lượng đồng nhập khẩu về tăng lên, nhà cung cấp thận trọng hơn trong báo giá, và dư địa tăng của premium bị hạn chế.

      Từ tháng 5 đến tháng 6, chênh lệch giá LME-COMEX tiếp tục nới rộng, làm tăng động lực cho nguồn cung có thể giao dịch ở nước ngoài chảy sang thị trường Mỹ, đồng thời thắt chặt lượng đồng nhập khẩu có sẵn cho thị trường châu Á và Trung Quốc. Trong khi đó, dù biên lợi nhuận nhập khẩu của Trung Quốc có lúc phục hồi, nhưng lượng hàng về thực tế và bổ sung qua hải quan bị chậm trễ, khiến thị trường giao ngay trong nước khó nhanh chóng chuyển sang trạng thái dư thừa. Nguồn cung nhập khẩu thấp cùng với tồn kho thấp trở thành nguyên nhân chính khiến premium đồng SHFE giữ vững trong giai đoạn giữa năm.

III. Triển vọng premium đồng SHFE nửa cuối năm 2026

       Trong nửa cuối năm, premium đồng SHFE dự kiến vẫn chịu sự giằng co giữa các yếu tố tồn kho, tiêu thụ, nhập khẩu, chênh lệch giá khu vực và cấu trúc chênh lệch kỳ hạn giữa các tháng. Tồn kho thấp tiếp tục là yếu tố quan trọng hỗ trợ thị trường giao ngay, nhưng tác động kìm hãm của giá đồng cao lên tiêu thụ hạ nguồn, thay đổi tốc độ bổ sung từ đồng nhập khẩu, tốc độ xuất hàng của các nhà máy luyện đồng trong nước, và sự chuyển giao giữa mùa thấp điểm và mùa cao điểm sẽ cùng ảnh hưởng đến biên độ giao dịch của premium.

1. Quý 3: Mùa thấp điểm tiêu thụ sẽ kìm hãm đà tăng của phí bảo hiểm, nhưng tồn kho thấp có thể giới hạn mức chiết khấu sâu

      Quý 3 thường là mùa thấp điểm truyền thống của tiêu thụ đồng. Đơn hàng suy yếu từ một số người dùng cuối có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ vận hành ở hạ nguồn. Trong bối cảnh giá đồng cao và biến động, các doanh nghiệp hạ nguồn sẽ thận trọng khi thu mua, các giao dịch giao ngay dự kiến chủ yếu dựa trên nhu cầu và nhu cầu bổ sung tồn kho chủ động bị hạn chế. Nếu phía tiêu thụ không có cải thiện đáng kể, dư địa tăng của phí bảo hiểm đồng trên SHFE có thể sẽ bị giới hạn.

       Tuy nhiên, từ phía cung, nếu tồn kho xã hội vẫn ở mức thấp và nguồn đồng nhập khẩu bổ sung hạn chế, thị trường giao ngay cũng khó chứng kiến mức chiết khấu sâu rõ rệt. Một mặt, tồn kho thấp sẽ tiếp tục hỗ trợ báo giá của nhà cung cấp; mặt khác, nếu chênh lệch giá COMEX-LME duy trì ở mức tương đối cao, nguồn cung nước ngoài sẽ tiếp tục chuyển hướng sang thị trường Mỹ, tốc độ nhập khẩu đồng vào Trung Quốc có thể tiếp tục bị ảnh hưởng, và thị trường giao ngay nội địa khó có thể nới lỏng nhanh chóng.

       Kết quả là, phí bảo hiểm đồng trên SHFE trong quý 3 có thể thể hiện mô hình “cầu yếu nhưng chiết khấu hạn chế”. Mùa thấp điểm tiêu thụ sẽ kìm hãm đà tăng của phí bảo hiểm, nhưng tồn kho thấp, sự bất định trong bổ sung nhập khẩu, và nguồn cung khu vực thắt chặt có thể khiến biên độ chiết khấu vẫn tương đối hạn chế. Phí bảo hiểm giao ngay quý 3 được dự báo phần lớn sẽ diễn biến đi ngang trong một biên độ, các biến động định kỳ vẫn phụ thuộc vào cấu trúc chênh lệch giá giữa các tháng, thay đổi tồn kho và tốc độ thông quan đồng nhập khẩu.

2. Quý 4: Tập trung vào việc hiện thực hóa mùa cao điểm và điểm uốn tồn kho, phí bảo hiểm có thể có cơ hội phục hồi định kỳ

       Khi thị trường bước vào quý 4, sự chú ý sẽ dần chuyển sang liệu mùa cao điểm tiêu thụ có hiện thực hóa hay không. Nếu đầu tư lưới điện, lịch sản xuất thiết bị gia dụng, năng lượng mới và đơn hàng sản xuất có cải thiện biên, tâm lý mua hàng ở hạ nguồn có thể tăng so với quý 3, và tiêu thụ đồng catốt có thể phục hồi theo giai đoạn. Nếu không có tích lũy tồn kho đáng kể, phí bảo hiểm đồng trên SHFE vẫn có cơ hội tăng trở lại.

        Tuy nhiên, cần lưu ý rằng liệu phí bảo hiểm quý 4 có duy trì được xu hướng tăng hay không vẫn phụ thuộc vào tốc độ bổ sung nguồn cung. Nếu cửa sổ chênh lệch giá nhập khẩu mở ra định kỳ, với các chuyến hàng đồng nhập khẩu tập trung đến, hoặc sản lượng luyện kim trong nước tăng, tình hình cung thắt chặt trên thị trường giao ngay có thể dịu bớt, giới hạn dư địa phục hồi của phí bảo hiểm. Ngoài ra, trong nửa cuối năm, cần tập trung chú ý vào tốc độ giải phóng công suất mới và mở rộng ở phía cung đồng cathode trong nước. Ngoài dự án Youjin Guanhua đã bắt đầu sản xuất và cho ra đồng cathode vào tháng 6, các dự án như Humon Giai đoạn II, Chifeng Jintong Giai đoạn II và Shenghai Giai đoạn II cũng sẽ là những nguồn tăng trưởng cung thu hút sự chú ý của thị trường trong nửa cuối năm. Khi các dự án này dần đi vào hoạt động, tăng công suất và đạt sản lượng ổn định, kỳ vọng về việc bổ sung nguồn cung đồng cathode trong nước sẽ ngày càng mạnh lên.

       Trong khi đó, nếu giá đồng cao tiếp tục kìm hãm việc mua hàng của người dùng cuối và việc tích trữ lại ở khâu hạ nguồn không cải thiện đáng kể, các mức phí bảo hiểm có thể khó hình thành xu hướng bền vững ngay cả khi chúng tăng lên một cách gián đoạn.

       Do đó, phí bảo hiểm đồng SHFE trong quý 4 nhiều khả năng sẽ thể hiện sự phục hồi theo từng giai đoạn hơn là tăng một chiều. Các tiêu chí chính để đánh giá điều này là: liệu tồn kho có tiếp tục giảm, đơn hàng hạ nguồn có cải thiện, đồng nhập khẩu có đến với khối lượng tập trung, phí bảo hiểm cao ở Quảng Đông có tái xuất hiện hay không, và chênh lệch giá giữa các hợp đồng tương lai có tiếp tục hỗ trợ việc giữ vững giá giao ngay hay không.

Tóm tắt

        Nhìn chung, phí bảo hiểm đồng SHFE trong nửa đầu năm 2026 thể hiện rõ đặc điểm theo giai đoạn. Trong quý 1, do ảnh hưởng của việc tích trữ tồn kho sau kỳ nghỉ và sự phục hồi chậm ở khâu hạ nguồn, phí bảo hiểm giao ngay chịu áp lực và dao động; trong quý 2, khi quá trình giảm tồn kho diễn ra, đặc biệt là sự sụt giảm nhanh chóng của tồn kho ở Quảng Đông, phí bảo hiểm cao ở miền Nam Trung Quốc đã mở ra cơ hội kinh doanh chênh lệch giá để dịch chuyển đồng, thúc đẩy phí bảo hiểm ở các khu vực khác; từ tháng 5 đến tháng 6, mặc dù kỳ vọng về mùa thấp điểm tăng lên, chênh lệch giá COMEX-LME ngày càng mở rộng đã phân tán nguồn cung nước ngoài, và lượng bổ sung đồng nhập khẩu của Trung Quốc bị hạn chế, do đó mô hình tồn kho trong nước thấp tiếp tục hỗ trợ thị trường giao ngay.

        Nhìn về nửa cuối năm, phí bảo hiểm đồng SHFE sẽ tiếp tục bị chi phối bởi các yếu tố như tồn kho, nhập khẩu, tiêu thụ và mức tăng trưởng cung. Trong quý 3, sự chậm lại theo mùa của tiêu thụ có thể hạn chế đà tăng của phí bảo hiểm, nhưng tồn kho thấp, sự không chắc chắn về bổ sung nhập khẩu và nguồn cung thắt chặt ở Quảng Đông vẫn có thể hỗ trợ phí bảo hiểm giao ngay. Trong quý 4, cần theo dõi sát sao quá trình tăng công suất của các dự án mới và mở rộng. Nếu các dự án như Humon Giai đoạn II, Chifeng Jintong Giai đoạn II, Shenghai Giai đoạn II và các dự án khác dần giải phóng sản lượng, kết hợp với việc bổ sung đồng nhập khẩu tăng lên, áp lực cung giao ngay trong nước có thể tăng nhẹ và dư địa tăng của phí bảo hiểm sẽ bị hạn chế.

       Tổng thể, phí bảo hiểm đồng SHFE có khả năng vẫn bị kẹt trong cuộc giằng co giữa "hỗ trợ hàng tồn kho thấp" và "áp lực tăng trưởng cung" trong nửa cuối năm. Nếu hàng tồn kho giữ ở mức thấp và nguồn cung đồng nhập khẩu vẫn hạn chế, phí bảo hiểm có thể vẫn có cơ hội mạnh lên theo chu kỳ; tuy nhiên, nếu việc giải phóng công suất mới diễn ra suôn sẻ, cửa sổ nhập khẩu mở ra và sự phục hồi tiêu thụ vẫn yếu, phí bảo hiểm giao ngay có thể dần chịu áp lực.

 

Tuyên bố về Nguồn Dữ liệu: Ngoại trừ thông tin công khai, tất cả dữ liệu khác được SMM xử lý dựa trên thông tin công khai, giao tiếp thị trường và dựa trên mô hình cơ sở dữ liệu nội bộ của SMM. Chúng chỉ mang tính chất tham khảo và không cấu thành khuyến nghị ra quyết định.

Hình ảnh trong bài viết này có chú thích được AI dịch, chỉ để tham khảo.

Để biết thêm thông tin hoặc có thắc mắc gì, vui lòng liên hệ: lemonzhao@smm.cn
Để biết thêm thông tin về cách truy cập báo cáo nghiên cứu, vui lòng liên hệ:service.en@smm.cn
Tin Liên Quan
Copper Prices Weaken, Secondary Copper Rod Enterprises' Purchase Willingness Flat [SMM Secondary Copper Daily Review]
2 phút trước
Copper Prices Weaken, Secondary Copper Rod Enterprises' Purchase Willingness Flat [SMM Secondary Copper Daily Review]
Đọc thêm
Copper Prices Weaken, Secondary Copper Rod Enterprises' Purchase Willingness Flat [SMM Secondary Copper Daily Review]
Copper Prices Weaken, Secondary Copper Rod Enterprises' Purchase Willingness Flat [SMM Secondary Copper Daily Review]
2 phút trước
Tồn kho đồng xã hội giảm đáng kể so với tuần trước, nguồn cung thắt chặt duy trì xu hướng giảm tồn kho [SMM Weekly Data]
44 phút trước
Tồn kho đồng xã hội giảm đáng kể so với tuần trước, nguồn cung thắt chặt duy trì xu hướng giảm tồn kho [SMM Weekly Data]
Đọc thêm
Tồn kho đồng xã hội giảm đáng kể so với tuần trước, nguồn cung thắt chặt duy trì xu hướng giảm tồn kho [SMM Weekly Data]
Tồn kho đồng xã hội giảm đáng kể so với tuần trước, nguồn cung thắt chặt duy trì xu hướng giảm tồn kho [SMM Weekly Data]
44 phút trước
Giảm tồn kho cùng với nhu cầu bền vững, phí bảo hiểm đồng giao ngay Thượng Hải tăng đều [SMM Shanghai spot copper]
1 giờ trước
Giảm tồn kho cùng với nhu cầu bền vững, phí bảo hiểm đồng giao ngay Thượng Hải tăng đều [SMM Shanghai spot copper]
Đọc thêm
Giảm tồn kho cùng với nhu cầu bền vững, phí bảo hiểm đồng giao ngay Thượng Hải tăng đều [SMM Shanghai spot copper]
Giảm tồn kho cùng với nhu cầu bền vững, phí bảo hiểm đồng giao ngay Thượng Hải tăng đều [SMM Shanghai spot copper]
[SMM Giá đồng giao ngay Thượng Hải] Dự báo cho ngày mai, SMM ghi nhận tồn kho xã hội Thượng Hải ở mức 122.400 tấn, giảm 4.100 tấn so với tuần trước, và tồn kho xã hội Giang Tô ở mức 36.000 tấn, giảm 200 tấn so với tuần trước. Việc giải phóng tồn kho liên tiếp đã đẩy mức phí bảo hiểm đồng giao ngay Thượng Hải lên cao hơn. Mô hình thắt chặt nguồn cung vẫn duy trì, hỗ trợ vững chắc cho phí bảo hiểm giao ngay. Sau khi nguồn cung giá thấp được hấp thụ nhanh trong ngày, lượng hàng giao ngay sẵn có trên thị trường trở nên khan hiếm và nhà cung cấp kiên quyết giữ giá. Nhìn chung, nhờ giảm tồn kho, lập trường giá vững của nhà cung cấp và nhu cầu hạ nguồn phục hồi, giá đồng giao ngay Thượng Hải so với hợp đồng 2607 dự kiến duy trì mức phí bảo hiểm vào ngày mai, với mức trung bình tổng thể có thể nhích nhẹ.
1 giờ trước
Đánh giá phí bảo hiểm giao ngay cho đồng cathode nửa đầu năm 2026 và triển vọng nửa cuối năm [Phân tích SMM] - Shanghai Metals Market (SMM)