Trong nửa đầu năm 2026, phí bảo hiểm giao ngay đồng catốt trên SHFE dao động rõ rệt, mang các đặc điểm “biến động cao, chiết khấu sâu định kỳ, phục hồi trong quý 2 và trở lại mức phí bảo hiểm vào giữa năm.”
Quanh dịp Tết Nguyên đán, phí bảo hiểm giao ngay biến động mạnh hơn do hoạt động dự trữ của hạ nguồn, chuyển hợp đồng và thay đổi tồn kho. Sau kỳ nghỉ, khi tồn kho xã hội tăng theo mùa và phục hồi hạ nguồn chậm, thị trường giao ngay từng chịu áp lực và suy yếu. Bước sang quý 2, khi tồn kho xã hội tiếp tục giảm, đặc biệt là mức giảm nhanh tại Quảng Đông, phí bảo hiểm giao ngay tại miền Nam Trung Quốc tăng mạnh, mở ra cơ hội kinh doanh chênh lệch giá giúp chuyển hàng từ miền Đông sang miền Nam, qua đó gián tiếp đẩy phí bảo hiểm giao ngay tại Thượng Hải lên cao. Trong tháng 5-6, dù giá đồng cao và kỳ vọng về mùa thấp điểm kìm hãm hoạt động mua vào của hạ nguồn, chênh lệch giá COMEX-LME tiếp tục nới rộng. Điều này củng cố đà xuất khẩu nguồn cung sang thị trường Mỹ từ bên ngoài Trung Quốc, làm gián đoạn nhịp nhập khẩu đồng vào Trung Quốc. Môi trường tồn kho nội địa thấp vẫn hỗ trợ cho phí bảo hiểm giao ngay.
Nhìn chung, phí bảo hiểm đồng SHFE nửa đầu năm 2026 không chỉ được quyết định bởi sức mạnh tiêu thụ nội địa tại Thượng Hải, mà còn bị chi phối bởi tổng hòa các yếu tố: tồn kho nội địa thấp, phân hóa tồn kho giữa các khu vực, kinh doanh chênh lệch tồn kho xuyên vùng, bổ sung đồng nhập khẩu hạn chế và biến động chênh lệch giá ở nước ngoài. Tồn kho thấp tạo nền tảng hỗ trợ cho thị trường giao ngay. Phí bảo hiểm cao tại Quảng Đông là động lực then chốt giúp phí bảo hiểm phục hồi trong quý 2. Chênh lệch COMEX-LME nới rộng hạn chế khả năng bổ sung đồng nhập khẩu cho thị trường nội địa, giúp phí bảo hiểm đồng SHFE thể hiện sức chống đỡ ngay cả khi tiêu thụ suy yếu ở biên.
1. Nhìn lại phí bảo hiểm đồng SHFE nửa đầu năm

Tháng 1: Dự trữ trước kỳ nghỉ và gián đoạn chuyển hợp đồng khuếch đại biến động phí bảo hiểm
Vào tháng 1 năm 2026, phí bảo hiểm giao ngay đồng SHFE biến động rất mạnh. Đầu tháng, thị trường vẫn trong giai đoạn dự trữ trước kỳ nghỉ, một số doanh nghiệp hạ nguồn còn nhu cầu bổ sung hàng trước Tết Nguyên đán. Cùng với việc chuyển hợp đồng và những thay đổi tạm thời trong cơ cấu cung ứng, phí bảo hiểm giao ngay tạm thời tăng mạnh. Tuy nhiên, khi kỳ nghỉ đến gần, các doanh nghiệp hạ nguồn dần ngừng hoạt động, giao dịch thị trường mỏng đi, và thương nhân đối mặt với áp lực bán ra ngày càng tăng. Điều này khiến phí giao ngay nhanh chóng giảm và chuyển sang mức chiết khấu.
Từ góc độ diễn biến thị trường, biến động nhanh của phí trong tháng 1 phản ánh việc điều chỉnh nhịp độ giao dịch trước kỳ nghỉ và gián đoạn về phía cung hơn là sự cải thiện bền vững trong tiêu thụ. Trong giai đoạn cuối trước Tết Nguyên đán, hoạt động mua vào của hạ nguồn dần thu hẹp, lực mua trên thị trường giảm, và các nhà cung cấp chủ động hạ giá chào để thúc đẩy giao dịch, khiến mức chiết khấu giao ngay mở rộng. Điều này cũng tạo tiền đề cho quá trình tích trữ tồn kho theo mùa sau Tết Nguyên đán và thị trường giao ngay quý 1 ở trạng thái ảm đạm.
Tồn kho tích lũy sau kỳ nghỉ gây áp lực lên thị trường giao ngay; Sự phục hồi của phí thiếu tính bền vững, tháng 2-tháng 3

Sau Tết Nguyên đán, tồn kho xã hội đồng cathode của Trung Quốc bước vào chu kỳ tích lũy theo mùa, trong khi các doanh nghiệp hạ nguồn hoạt động trở lại với tốc độ tương đối chậm, và đơn hàng cuối cùng cần thời gian phục hồi. Trong bối cảnh tích lũy tồn kho vượt xa phục hồi tiêu thụ, các nhà cung cấp đối mặt với áp lực xuất hàng đáng kể, báo giá trên thị trường giao ngay nhìn chung chịu sức ép, và phí đồng SHFE có thời điểm duy trì ở mức chiết khấu sâu.
Khoảng giữa tháng 2, do ảnh hưởng bởi việc đáo hạn hợp đồng trong các tháng giao nhận, sự thắt chặt định kỳ của hàng hóa sẵn có và các xáo trộn tâm lý thị trường, phí tăng vọt trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, do tiêu thụ hạ nguồn khi đó chưa phục hồi hoàn toàn và áp lực tồn kho kéo dài, mức phí giao ngay cao không nhận được sự hỗ trợ giao dịch bền vững, và báo giá sau đó lại giảm trở lại. Điều này cho thấy những đợt tăng đột biến trong thị trường giao ngay quý 1 chủ yếu do các xáo trộn ngắn hạn về cung và cấu trúc hợp đồng tương lai, thay vì sự mạnh lên thực sự của tiêu thụ.
Sau khi bước sang tháng 3, khi quá trình hoạt động trở lại của hạ nguồn dần tiến triển, giao dịch trên thị trường giao ngay cải thiện so với sau Tết Nguyên đán, tốc độ tăng trưởng tồn kho xã hội chậm lại và dần bước vào giai đoạn đầu của quá trình giảm tồn kho, phí phục hồi từ mức chiết khấu sâu trước đó. Trong khi đó, khâu lưu thông đồng thứ cấp chịu ảnh hưởng bởi các vấn đề về hóa đơn, tuân thủ thuế và tính ổn định của nguồn cung, khiến một phần thanh đồng thứ cấp và tiêu thụ liên quan chuyển sang phía đồng cathode, nhu cầu thay thế đồng cathode tăng theo chu kỳ, cũng thúc đẩy tốc độ giảm tồn kho xã hội. Tuy nhiên, do nhu cầu tiêu dùng cuối cùng phục hồi chậm và giá đồng cao kìm hãm hoạt động mua hàng của khâu hạ nguồn, thị trường chủ yếu giao dịch theo hình thức mua hàng đúng lúc (just-in-time), và sự phục hồi của phí bảo hiểm không suôn sẻ, nhiều lần rơi trở lại vùng chiết khấu sau khi chuyển nhượng hợp đồng.
Nhìn chung, logic vận hành chính của thị trường đồng giao ngay Thượng Hải trong quý 1 là ‘áp lực tích tụ tồn kho sau kỳ nghỉ + phục hồi chậm của hạ nguồn + các xáo trộn do chuyển nhượng hợp đồng và giao hàng’. Mặc dù phí bảo hiểm có các đợt phục hồi định kỳ, nhưng thiếu nền tảng cho sự tăng bền vững.
Giảm tồn kho kết hợp với cải thiện tiêu thụ; Trung tâm phí bảo hiểm tăng theo giai đoạn, tháng 4-tháng 5

Sau khi bước vào quý 2, logic vận hành của thị trường đồng giao ngay Thượng Hải đã có những thay đổi nhẹ. Với sự xuất hiện của mùa tiêu thụ cao điểm truyền thống, một số ngành hạ nguồn như dây và cáp, thanh đồng cathode, ống đồng, và tấm/lá đồng đã chứng kiến tỷ lệ hoạt động cải thiện so với quý trước, và hoạt động mua hàng đúng lúc của người dùng cuối cũng phục hồi phần nào. Trong khi đó, kể từ quý 1, khâu lưu thông đồng thứ cấp bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như tuân thủ hóa đơn và thuế, chuyển một phần nhu cầu sang đồng cathode, củng cố sức bật của tiêu thụ đồng cathode. Sự phục hồi nhu cầu và tiêu thụ thay thế đã cùng thúc đẩy việc giảm tồn kho xã hội liên tục. Đồng thời, từ tháng 4 đến tháng 6, các nhà máy luyện kim trong nước bước vào giai đoạn bảo trì hàng năm tập trung tương đối, một số nhà máy tiến hành bảo trì định kỳ hoặc giảm tốc độ xuất hàng, khiến lượng hàng đến thị trường thấp hơn dự kiến và thắt chặt hơn nữa nguồn cung có sẵn. Được thúc đẩy bởi cả sự phục hồi nhu cầu so với tháng trước và gián đoạn bảo trì phía cung, các nhà cung cấp củng cố ý định giữ giá, và trung tâm phí bảo hiểm giao ngay dịch chuyển lên cao.
Ngoài ra, việc giảm tồn kho liên tục ở Quảng Đông và phí bảo hiểm giao ngay cao ở miền Nam Trung Quốc cũng là những động lực quan trọng. Trong quý 2, tiêu thụ hạ nguồn ở miền Nam Trung Quốc phục hồi so với tháng trước, cộng với tốc độ nhập hàng chậm trong mùa bảo trì luyện kim, dẫn đến tồn kho xã hội Quảng Đông giảm liên tục. Nguồn cung có sẵn trong khu vực thắt chặt đáng kể, củng cố tâm lý giữ giá của nhà cung cấp, và phí bảo hiểm giao ngay ở Quảng Đông tại một thời điểm cao hơn đáng kể so với Thượng Hải. Trong bối cảnh đó, chênh lệch giá giữa miền Đông và miền Nam Trung Quốc dần nới rộng, tạo ra một số cơ hội kinh doanh chênh lệch giá cho việc luân chuyển hàng tồn kho. Kỳ vọng về một lượng hàng sẽ dịch chuyển từ miền Đông vào miền Nam gia tăng, ảnh hưởng nhẹ đến nguồn cung sẵn có tại thị trường Thượng Hải và gián tiếp thúc đẩy phí premium giao ngay tại Thượng Hải.
Động lực cốt lõi khiến phí premium mạnh lên trong giai đoạn này không hoàn toàn là sự bùng nổ của nhu cầu mà phản ánh nhiều hơn độ co giãn của giá giao ngay bị khuếch đại trong môi trường tồn kho thấp. Một mặt, khi tồn kho xã hội giảm, lượng hàng sẵn có cho các thương nhân và doanh nghiệp hạ nguồn giảm, hàng giá thấp được giao dịch nhanh chóng. Mặt khác, hoạt động bảo trì lò luyện dẫn đến sụt giảm lượng xuất hàng theo chu kỳ, cùng với tốc độ hàng nhập khẩu về không ổn định, cửa sổ nhập khẩu đóng theo chu kỳ hoặc thua lỗ mở rộng, nguồn bổ sung giao ngay trong nước hạn chế củng cố thêm tâm lý giữ giá của nhà cung cấp.
Nhìn chung, thị trường đồng giao ngay Thượng Hải trong quý 2 chuyển dần từ logic “áp lực tồn kho chi phối” của quý 1 sang “hỗ trợ từ xu hướng giảm tồn kho”. Cụ thể, tiêu thụ cải thiện so với tháng trước tạo cơ sở cho nhu cầu, bảo trì lò luyện tập trung làm chậm quá trình bổ sung nguồn cung, và quá trình giảm tồn kho nhanh chóng tại Quảng Đông khuếch đại độ co giãn của phí premium khu vực, cùng nhau thúc đẩy trung tâm của phí premium đồng SHFE tăng theo từng giai đoạn trong tháng 4-5.
Tháng 5-6: Giá đồng cao và kỳ vọng mùa thấp điểm kìm hãm hoạt động thu mua; Biến động phí premium gia tăng
Từ cuối tháng 5 đến tháng 6, thị trường đồng giao ngay Thượng Hải bước vào giai đoạn đan xen các yếu tố tăng và giảm. Một mặt, khi mùa tiêu thụ thấp điểm truyền thống đến gần, tác động kìm hãm của giá đồng cao lên tâm lý thu mua của hạ nguồn trở nên rõ rệt hơn. Người dùng cuối chủ yếu duy trì mua theo nhu cầu thực tế, thiếu sẵn sàng tích trữ chủ động, và hoạt động giao dịch giao ngay giảm so với giai đoạn tháng 4-5. Mặt khác, tồn kho xã hội trong nước vẫn ở mức tương đối thấp, và tác động của bảo trì lò luyện tập trung từ tháng 4 đến tháng 6 vẫn chưa hoàn toàn lắng xuống. Lượng hàng bổ sung về một số khu vực còn hạn chế, nhà cung cấp không muốn bán với giá thấp, và phí premium không sụt giảm mạnh một chiều.
Trong giai đoạn này, ngoài tồn kho trong nước thấp và gián đoạn từ bảo trì lò luyện, chênh lệch giá COMEX-LME liên tục nới rộng trở thành một biến số bên ngoài quan trọng ảnh hưởng đến phí premium đồng SHFE. Trong tháng 5-6, giá đồng COMEX tương đối mạnh hơn LME, chênh lệch giá COMEX-LME tiếp tục nới rộng, và dòng chảy thương mại đồng cathode ở nước ngoài đã thay đổi. Một số nguồn cung thương hiệu giao hàng có xu hướng chảy vào thị trường Mỹ nhiều hơn để đạt được lợi nhuận giao hàng hoặc kinh doanh chênh lệch cao hơn, dẫn đến thắt chặt nguồn tài nguyên giao ngay ở nước ngoài sẵn có cho thị trường châu Á và Trung Quốc.
Từ góc độ nhập khẩu đồng của Trung Quốc, chênh lệch giá COMEX-LME ngày càng nới rộng đã làm suy yếu động lực để nguồn cung nước ngoài chảy vào thị trường Trung Quốc. Ngay cả khi tỷ giá SHFE/LME trong nước phục hồi theo từng đợt, lượng hàng thực tế cập cảng và thông quan của đồng nhập khẩu vẫn có độ trễ nhất định. Đối với thị trường giao ngay trong nước, điều này có nghĩa là trong bối cảnh tồn kho thấp, đồng nhập khẩu khó có thể nhanh chóng bổ sung hiệu quả, lo ngại của các nhà cung cấp về lượng hàng tập trung về sau đã giảm bớt, và báo giá giao ngay vẫn giữ được sự hỗ trợ nhất định.
Do đó, sức phục hồi của phí bảo hiểm đồng SHFE từ tháng 5 đến tháng 6 không thể chỉ đơn giản là do tiêu dùng nội địa tiếp tục mạnh; mà đó là kết quả tổng hợp của tồn kho thấp, bảo trì lò luyện, bổ sung nhập khẩu không đủ và sự chuyển hướng nguồn cung nước ngoài. Trong bối cảnh hoạt động mua sắm ở khâu hạ nguồn suy yếu, dư địa tăng của phí bảo hiểm bị hạn chế; tuy nhiên, do nguồn cung bổ sung trong nước hạn chế và lượng đồng nhập khẩu cập cảng không đạt kỳ vọng, thị trường giao ngay khó có thể nhanh chóng chuyển sang dư thừa, với phí bảo hiểm nhìn chung neo ở mức cao và trải qua các biến động theo chu kỳ.
II. Những yếu tố chính thúc đẩy phí bảo hiểm đồng SHFE trong nửa đầu năm
1. Tồn kho: Tồn kho thấp là yếu tố hỗ trợ chính cho phí bảo hiểm giao ngay
Sự hỗ trợ cốt lõi cho phí bảo hiểm đồng SHFE trong nửa đầu năm đến từ những thay đổi về tồn kho. Sau Tết Nguyên đán, tồn kho xã hội tích lũy, gây áp lực lên phí bảo hiểm giao ngay; bước sang quý 2, tồn kho tiếp tục giảm, thắt chặt nguồn cung sẵn có trên thị trường và củng cố ý định giữ giá của các nhà cung cấp. Đặc biệt, tồn kho của Quảng Đông giảm nhanh từ tháng 4 đến tháng 5, đẩy phí bảo hiểm giao ngay ở miền Nam Trung Quốc tăng mạnh và mở ra cơ hội kinh doanh chênh lệch để vận chuyển hàng từ miền Đông sang miền Nam Trung Quốc, gián tiếp thúc đẩy thị trường Thượng Hải. Từ góc độ này, sự phục hồi của phí bảo hiểm trong quý 2 không chỉ do tiêu dùng nội địa của Thượng Hải mà là kết quả tổng hợp của tồn kho thấp và các dòng chảy cung ứng khu vực.
2. Phục hồi tiêu thụ hỗ trợ premium, giá đồng cao và chênh lệch giá kỳ hạn hạn chế đà tăng bền vững
Trong mùa cao điểm truyền thống của quý 2, hoạt động mua hàng kịp thời (just-in-time) của khâu hạ nguồn phục hồi phần nào, hỗ trợ phục hồi premium. Tuy nhiên, trong bối cảnh giá đồng cao, các bên hạ nguồn ít sẵn sàng chủ động dự trữ, giao dịch giao ngay chủ yếu dựa trên nhu cầu mua ngay, hạn chế dư địa để premium tăng thêm. Trong khi đó, việc chuyển nhượng hợp đồng, giao hàng và thay đổi chênh lệch giá hợp đồng tương lai đồng SHFE cũng làm gia tăng biến động ngắn hạn. Nhìn chung, tiêu thụ quyết định mức độ phục hồi của premium, chênh lệch giá kỳ hạn chi phối nhịp độ ngắn hạn và giá đồng cao giới hạn đà tăng bền vững của premium.
3. Nhập khẩu: Thay đổi biên lợi nhuận nhập khẩu ảnh hưởng đến tốc độ bổ sung nguồn cung giao ngay trong nước

Tốc độ dòng đồng nhập khẩu vào Trung Quốc ảnh hưởng đáng kể đến premium đồng giao ngay SHFE. Khi thua lỗ nhập khẩu mở rộng và cửa sổ nhập khẩu đóng lại, động lực để nguồn cung từ nước ngoài chảy vào Trung Quốc suy yếu, nguồn cung giao ngay trong nước vẫn hạn chế, tâm lý giữ giá của các nhà cung cấp gia tăng và premium có xu hướng được hỗ trợ. Ngược lại, khi thua lỗ nhập khẩu thu hẹp hoặc thậm chí cửa sổ nhập khẩu mở trở lại theo chu kỳ, kỳ vọng thị trường về lượng đồng nhập khẩu cập bến tăng lên, các nhà cung cấp trở nên thận trọng hơn trong việc chào giá và dư địa tăng của premium bị hạn chế.
Từ tháng 5 đến tháng 6, chênh lệch giá LME-COMEX tiếp tục mở rộng, củng cố động lực để nguồn cung có thể giao hàng ở nước ngoài chảy vào thị trường Mỹ, đồng thời siết chặt nguồn đồng nhập khẩu dành cho châu Á và thị trường Trung Quốc. Trong khi đó, mặc dù biên lợi nhuận nhập khẩu của Trung Quốc phục hồi gián đoạn, lượng hàng cập bến và bổ sung qua thông quan thực tế lại bị trễ, khiến thị trường giao ngay trong nước khó nhanh chóng chuyển sang trạng thái dồi dào. Bổ sung nhập khẩu không đủ cùng với xu hướng tồn kho thấp là nguyên nhân chính đằng sau khả năng phục hồi của premium đồng SHFE vào giữa năm.
III. Triển vọng premium đồng SHFE nửa cuối năm 2026
Nhìn sang nửa cuối năm, premium đồng SHFE được dự báo sẽ tiếp tục chịu sự giằng co giữa tồn kho, tiêu thụ, nhập khẩu, chênh lệch giá khu vực và cấu trúc chênh lệch giữa các tháng. Tồn kho thấp sẽ vẫn là yếu tố then chốt hỗ trợ thị trường giao ngay, nhưng tác động kìm hãm của giá đồng cao đến tiêu thụ hạ nguồn, thay đổi trong tốc độ bổ sung đồng nhập khẩu, tiến độ giao hàng của các nhà máy luyện kim trong nước và sự chuyển tiếp giữa mùa thấp điểm và cao điểm sẽ cùng ảnh hưởng đến biên độ giao dịch của premium.
1. Quý 3: Mùa tiêu thụ thấp điểm sẽ kìm hãm đà tăng của phí bảo hiểm, nhưng tồn kho thấp có thể hạn chế mức chiết khấu sâu
Quý 3 thường là mùa tiêu thụ đồng truyền thống thấp điểm. Đơn hàng yếu hơn từ một số người dùng cuối có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ vận hành của các doanh nghiệp hạ nguồn. Trong bối cảnh giá đồng cao và biến động, các doanh nghiệp hạ nguồn sẽ thận trọng trong việc mua hàng, với các giao dịch giao ngay dự kiến chủ yếu dựa trên nhu cầu thực tế và hạn chế nhu cầu tích trữ chủ động. Nếu phía tiêu thụ không có sự cải thiện đáng kể, dư địa tăng của phí bảo hiểm đồng SHFE có thể bị hạn chế.
Tuy nhiên, từ phía cung, nếu tồn kho xã hội vẫn ở mức thấp và nguồn đồng nhập khẩu bổ sung hạn chế, thị trường giao ngay cũng khó có mức chiết khấu sâu rõ rệt. Một mặt, tồn kho thấp sẽ tiếp tục hỗ trợ giá chào của nhà cung cấp; mặt khác, nếu chênh lệch giá COMEX-LME duy trì ở mức tương đối cao, nguồn cung từ nước ngoài sẽ tiếp tục chảy sang thị trường Mỹ, tốc độ đồng nhập khẩu vào Trung Quốc có thể tiếp tục bị ảnh hưởng, và thị trường giao ngay trong nước khó có thể nới lỏng nhanh chóng.
Do đó, phí bảo hiểm đồng SHFE trong quý 3 có thể diễn biến theo kịch bản “nhu cầu yếu nhưng chiết khấu hạn chế”. Mùa tiêu thụ thấp điểm sẽ kìm hãm đà tăng của phí bảo hiểm, nhưng tồn kho thấp, nguồn nhập khẩu bổ sung không chắc chắn và nguồn cung khu vực thắt chặt có thể khiến biên độ chiết khấu tương đối hạn chế. Phí bảo hiểm giao ngay quý 3 dự kiến chủ yếu đi ngang trong biên độ, với các biến động định kỳ vẫn phụ thuộc vào cấu trúc chênh lệch giá giữa các tháng, thay đổi tồn kho và tốc độ thông quan đồng nhập khẩu.
2. Quý 4: Tập trung vào hiện thực hóa mùa cao điểm và điểm uốn tồn kho, phí bảo hiểm có thể có cơ hội phục hồi định kỳ
Khi thị trường bước sang quý 4, sự chú ý sẽ dần chuyển sang việc mùa tiêu thụ cao điểm có thành hiện thực hay không. Nếu đầu tư lưới điện, kế hoạch sản xuất thiết bị gia dụng, đơn hàng năng lượng mới và sản xuất có sự cải thiện biên, tâm lý mua hàng của phía hạ nguồn có thể khởi sắc so với quý 3, và tiêu thụ đồng catot có thể phục hồi theo từng giai đoạn. Nếu không có sự gia tăng tồn kho đáng kể, phí bảo hiểm đồng SHFE vẫn có cơ hội mạnh lên trở lại.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng liệu phí bảo hiểm quý 4 có thể duy trì xu hướng tăng hay không vẫn phụ thuộc vào tốc độ bổ sung nguồn cung. Nếu cơ hội kinh doanh chênh lệch giá nhập khẩu mở ra định kỳ, với lượng đồng nhập khẩu về dồn dập, hoặc sản lượng từ các lò luyện trong nước tăng lên, tình trạng khan hiếm nguồn cung trên thị trường giao ngay có thể dịu bớt, hạn chế dư địa phục hồi của phí bảo hiểm. Bên cạnh đó, trong nửa cuối năm 2026, sự chú ý nên tập trung vào tốc độ giải phóng công suất mới và mở rộng ở phía cung đồng cathode trong nước. Ngoài dự án Youjin Guanhua đã đi vào sản xuất và cho ra đồng cathode vào tháng 6, các dự án như Humon Giai đoạn II, Chifeng Jintong Giai đoạn II và Shenghai Giai đoạn II cũng sẽ là những nguồn tăng cung thu hút sự chú ý của thị trường trong nửa cuối năm. Khi các dự án này dần đi vào hoạt động, tăng công suất và đạt sản lượng ổn định, kỳ vọng về việc bổ sung nguồn cung đồng cathode trong nước sẽ dần mạnh lên.
Trong khi đó, nếu giá đồng cao tiếp tục kìm hãm hoạt động mua hàng của người dùng cuối và việc bổ sung hàng tồn kho ở khâu hạ nguồn không cải thiện đáng kể, phí bảo hiểm có thể khó hình thành xu hướng bền vững ngay cả khi thỉnh thoảng tăng mạnh.
Do đó, phí bảo hiểm đồng SHFE trong quý 4 có nhiều khả năng phục hồi theo từng giai đoạn hơn là tăng một chiều. Các tiêu chí chính để đánh giá điều này là: liệu hàng tồn kho có tiếp tục giảm, đơn hàng hạ nguồn có cải thiện, đồng nhập khẩu có về ồ ạt, phí bảo hiểm cao ở Quảng Đông có tái xuất hiện, và chênh lệch giá giữa các hợp đồng tương lai có tiếp tục hỗ trợ giữ giá giao ngay ổn định hay không.
Tóm tắt
Nhìn chung, phí bảo hiểm đồng SHFE trong nửa đầu năm 2026 thể hiện đặc điểm rõ rệt theo từng giai đoạn. Quý 1, do ảnh hưởng bởi tích lũy hàng tồn kho sau kỳ nghỉ lễ và hoạt động khôi phục chậm ở hạ nguồn, phí bảo hiểm giao ngay chịu áp lực và dao động; quý 2, khi quá trình giảm hàng tồn kho diễn ra, đặc biệt là sự sụt giảm nhanh chóng của tồn kho tại Quảng Đông, phí bảo hiểm cao ở miền Nam Trung Quốc đã mở ra cơ hội kinh doanh chênh lệch giá để luân chuyển đồng, thúc đẩy phí bảo hiểm ở tất cả các khu vực; từ tháng 5 đến tháng 6, dù kỳ vọng về mùa thấp điểm gia tăng, nhưng chênh lệch giá COMEX-LME mở rộng đã chuyển hướng nguồn cung ra nước ngoài, và lượng đồng nhập khẩu bổ sung của Trung Quốc hạn chế, do đó, mô hình tồn kho nội địa thấp tiếp tục hỗ trợ thị trường giao ngay.
Triển vọng nửa cuối năm 2026, phí bảo hiểm đồng SHFE sẽ tiếp tục bị chi phối bởi các yếu tố như hàng tồn kho, nhập khẩu, tiêu thụ và gia tăng nguồn cung. Trong quý 3, sự chậm lại theo mùa của tiêu thụ có thể giới hạn đà tăng của phí bảo hiểm, nhưng tồn kho thấp, sự không chắc chắn về bổ sung nhập khẩu và nguồn cung thắt chặt ở Quảng Đông vẫn có thể hỗ trợ phí bảo hiểm giao ngay. Trong quý 4, cần theo dõi sát sao quá trình tăng công suất của các dự án mới và mở rộng. Nếu các dự án Humon Giai đoạn II, Chifeng Jintong Giai đoạn II, Shenghai Giai đoạn II và các dự án khác dần giải phóng sản lượng, kết hợp với lượng đồng nhập khẩu bổ sung tăng lên, áp lực cung giao ngay trong nước có thể tăng nhẹ, và dư địa tăng của phí bảo hiểm sẽ bị giới hạn.
Nhìn chung, chênh lệch giá đồng trên SHFE có thể tiếp tục bị mắc kẹt trong cuộc giằng co giữa “hỗ trợ tồn kho thấp” và “áp lực tăng nguồn cung” trong nửa cuối năm. Nếu tồn kho duy trì thấp và nguồn cung đồng nhập khẩu vẫn hạn chế, chênh lệch giá vẫn có thể có cơ hội mạnh lên theo từng đợt; tuy nhiên, nếu công suất mới được giải phóng suôn sẻ, cửa nhập khẩu mở ra, và tiêu thụ phục hồi còn yếu, chênh lệch giá giao ngay có thể dần chịu áp lực.

![Giá đồng suy yếu, sức nóng giao dịch trên thị trường phế liệu đồng giảm bớt [Điểm báo hàng ngày đồng thứ cấp SMM]](https://imgqn.smm.cn/usercenter/ieria20251217171709.jpg)

