Thị trường Philippines: Zambales và Bắc Luzon chính thức bước vào mùa mưa. Một hệ thống áp thấp có thể đổ bộ vào thứ Hai, và giá CIF giảm theo giá thu mua của Indonesia.
Chào giá CIF Trung Quốc tuần này giảm: 1,3% ở mức 45,5–47 USD/wmt, 1,4% ở mức 56–57 USD/wmt, 1,5% ở mức 64–65 USD/wmt, và 1,8% ở mức 91–94 USD/wmt. Chào giá CIF Indonesia đi ngang, với 1,3% ở mức 45–46 USD/wmt và 1,4% ở mức 55–56 USD/wmt, phần lớn khớp với giá đấu thầu của lò luyện. Cước vận tải hạ nhiệt rõ rệt trong tuần này: Surigao–Lianyungang khoảng 13,25 USD/wmt, Surigao–Indonesia khoảng 11 USD/wmt. Nhìn chung cước vận tải giảm khoảng 0,5 USD/wmt so với tuần trước, làm dịu đáng kể tình trạng “cước neo cao”. Giá FOB cũng đi xuống, với 1,3% ở mức 33–35 USD/wmt, 1,4% ở mức 41,5–43,5 USD/wmt, và 1,8% ở mức 76–78 USD/wmt, xác nhận dự đoán trước đó rằng FOB sẽ giảm theo đà của CIF.
Về nguồn cung, Zambales và Bắc Luzon đã chính thức vào mùa mưa, làm đường vận chuyển trong mỏ xuống cấp, gián đoạn xuất hàng và khiến lượng hàng ra thấp. Về thời tiết, Philippines dự kiến mưa liên tục trong năm ngày đầu tuần tới, chuyển sang chủ yếu là mưa rào trong hai ngày cuối, với tổng lượng mưa cả tuần tăng vọt trên toàn quốc. Trong khi đó, một vùng áp thấp đang hình thành ở vùng biển phía đông; dù không được kỳ vọng mạnh lên thành áp thấp nhiệt đới hay bão, nó được dự báo sẽ đổ bộ vào Trung-Nam Philippines vào thứ Hai tuần tới và di chuyển theo hướng tây bắc trên đất liền, ảnh hưởng đến Luzon, Visayas và Mindanao. Tại các vùng sản xuất chính, lượng mưa tích lũy tuần tới quanh vành đai Manicani-Homonhon-Dinagat-Surigao dự kiến tăng hơn gấp đôi so với tuần trước, trong đó khu vực Homonhon khả năng bị sóng lừng ảnh hưởng trong 2–3 ngày. Lượng mưa tại Dinapigue dự báo gấp khoảng sáu lần tuần này, với chiều cao sóng đạt khoảng 1,7 mét vào thứ Tư và thứ Năm. Các điểm bốc hàng RTN, Ipilan và Berong ở Palawan đều được dự báo có lượng mưa cao hơn vào tuần tới so với tuần này. Tại Zambales, lượng mưa tích lũy cả tuần dự kiến gấp khoảng 2,5 lần tuần này. Mặc dù thời tiết gián đoạn kéo dài, nhưng tồn kho tại các cảng Trung Quốc đã ở mức cao, do đó tác động hỗ trợ của thời tiết lên giá vẫn rất hạn chế.
Về mặt chi phí, giá dầu quốc tế giảm nhẹ, làm giảm bớt áp lực chi phí khai thác và vận tải, nhưng giá cước vận tải giao ngay vẫn ở mức tương đối cao, sự suy giảm chưa thực sự thể hiện rõ. Về mặt cầu, các nhà máy luyện kim ở cả Trung Quốc và Indonesia đều có tồn kho cao ở cả hai loại quặng, nhu cầu bổ sung hàng trong ngắn hạn hạn chế. Tình trạng thị trường thiên về bên mua vẫn tiếp diễn, giao dịch giao ngay ảm đạm. Về tồn kho, tính đến ngày 26 tháng 6, lượng quặng niken Philippines tồn tại các cảng Trung Quốc đạt khoảng 6,44 triệu tấn ướt (wmt) (tương đương khoảng 51.000 tấn hàm lượng kim loại niken), duy trì bức tranh nguồn cung dồi dào.
Thị trường Indonesia: HMA giảm mạnh so với tháng trước – giảm 7,6% xuống mức thấp kỷ lục mới; cửa sổ sửa đổi RKAB đã mở; mưa lớn tiếp tục làm gián đoạn hoạt động vận chuyển tại Halmahera và Obi.
Bộ Năng lượng và Tài nguyên Khoáng sản Indonesia công bố giá tham chiếu HMA niken nửa đầu tháng 7 ở mức $17.225,67/tấn khô (dmt), giảm mạnh khoảng 7,6% so với mức $18.642,33/tấn khô nửa cuối tháng 6. Dựa trên cơ sở này, giá HPM lý thuyết cho quặng saprolit Ni 1,6% khoảng $66,6/tấn ướt, và cho quặng limonit Ni 1,2% khoảng $47,4/tấn ướt. Phí bảo hiểm: phí bảo hiểm cho nguyên liệu 1,6% ổn định; cho loại 1,4% khoảng $1,3/tấn ướt; cho loại 1,5% và 1,6% khoảng $3/tấn ướt – nhìn chung biến động nhỏ. Trên thị trường giao ngay, quặng limonit 1,2% được chào giá khoảng $30/tấn ướt, và quặng saprolit 1,5% khoảng $65/tấn ướt, cả hai đều giảm tổng cộng khoảng $5,5/tấn ướt trong tuần này, chủ yếu do giá tham chiếu HMA giảm mạnh.
Về mặt cung, tác động của mùa mưa lên các khu vực sản xuất tại Sulawesi vẫn tương đối nhẹ ở một số vùng, gây gián đoạn hạn chế đến hoạt động vận chuyển tổng thể. Tuy nhiên, điều kiện thời tiết tại Halmahera và đảo Obi nhìn chung rất khắc nghiệt, với mưa lớn kéo dài và điều kiện biển xấu đi đã gây ra một số hạn chế đối với sản xuất mỏ. Mặc dù có gián đoạn vận chuyển, mức tồn kho chung tại các nhà máy luyện kim vẫn tương đối đủ, hạn chế ảnh hưởng đến tốc độ mua hàng trong ngắn hạn. Trong khi đó, các nhà máy luyện kim tiếp tục yêu cầu quặng cấp cao hơn; nguồn cung quặng cấp thấp (1,3–1,4%) phần lớn được đáp ứng bởi hàng Philippines, và nhiều nhà máy luyện kim chuyển sang tích cực tìm kiếm quặng cấp cao (≥1,45%). Tuy nhiên, nguồn cung quặng cấp cao trong nước vẫn khan hiếm, với các cấp lưu hành tập trung trong khoảng hàm lượng niken 1,45–1,50%, làm gia tăng cạnh tranh thu mua. Giá giao dịch giao ngay quặng limonit 1,2% tuần này ổn định; hoạt động thu mua của nhà máy luyện kim duy trì ở mức thấp, với tâm lý chung ngần ngại giao dịch ở mức giá lý thuyết HPM, chiết khấu sâu vẫn tồn tại và tỷ lệ vận hành thấp của các nhà máy HPAL tiếp tục gây áp lực lên giá thu mua. Về mặt chính sách, hôm thứ Năm, ngày 25 tháng 6, ông Tri Winarno, Tổng cục trưởng Tổng cục Khoáng sản và Than đá, Bộ Năng lượng và Tài nguyên Khoáng sản Indonesia, đã làm rõ rằng tổng hạn ngạch RKAB cho quặng niken năm 2026 vẫn chưa được hoàn thiện. Chính phủ vẫn đang đánh giá đề xuất điều chỉnh của các công ty thông qua cơ chế thẩm định chính thức, chưa xác định con số cụ thể, tập trung vào việc đánh giá nhu cầu thực tế của ngành thay vì nới lỏng hạn chế. Thời hạn nộp đề xuất điều chỉnh RKAB chính thức bắt đầu từ ngày 1 tháng 7 đến hết ngày 31 tháng 7, các công ty khai thác mỏ đã bắt đầu công tác chuẩn bị cho đề xuất điều chỉnh và tích cực nộp tài liệu điều chỉnh hạn ngạch sản xuất; mọi điều chỉnh đều phải qua xem xét đầy đủ.
![[SMM Phân tích] Giá nickel yếu kìm hãm hợp đồng tương lai thép không gỉ Trung Quốc trong biên độ hẹp do kỷ luật giá nhà máy](https://imgqn.smm.cn/production/admin/votes/imagesLDoQB20260703182347.png)
![[Phân tích SMM] Giá muối niken và coban yếu; Các khoản phải trả sản phẩm trung gian chịu áp lực](https://imgqn.smm.cn/usercenter/yaAtG20251217171733.jpg)

