Ngày 26 tháng 6 -
Cảng miền Bắc Trung Quốc: quặng sắt cao Nam Phi ở mức 30,8-31,7 nhân dân tệ/mtu, giảm so với tuần trước; quặng bán cacbonat Nam Phi ở mức 37,2-37,7 nhân dân tệ/mtu, giảm so với tuần trước; quặng Gabon ở mức 40,6-41 nhân dân tệ/mtu, đi ngang so với tuần trước; quặng cục Úc 46% ở mức 43,3-43,8 nhân dân tệ/mtu, đi ngang so với tuần trước; quặng sắt trung bình Nam Phi ở mức 37-37,5 nhân dân tệ/mtu, giảm so với tuần trước.
Cảng miền Nam Trung Quốc: quặng sắt cao Nam Phi ở mức 34-34,5 nhân dân tệ/mtu, giảm so với tuần trước; quặng bán cacbonat Nam Phi ở mức 36,5-37 nhân dân tệ/mtu, đi ngang so với tuần trước; quặng Gabon ở mức 41-41,5 nhân dân tệ/mtu, đi ngang so với tuần trước; quặng cục Úc 46% ở mức 43,5-44 nhân dân tệ/mtu, đi ngang so với tuần trước; quặng sắt trung bình Nam Phi ở mức 37-37,5 nhân dân tệ/mtu, đi ngang so với tuần trước.
Thị trường quặng mangan duy trì ổn định trong thế giằng co, nhu cầu tiêu thụ cuối yếu và tâm lý chờ đợi phổ biến giữa người mua và người bán.
Về phía cung, South32, Comilog, Jupiter, NMT và UMK đều hạ giá chào bán quặng mangan cho các lô hàng đến Trung Quốc vào tháng 7 năm 2026. Hiện tại, khi quặng mangan giá cao cập cảng, các thương nhân giảm ý định hạ giá, hàng tồn kho tại cảng chịu áp lực và các nhà khai thác quặng vẫn giữ giá cứng.
Về phía cầu, giá tương lai SiMn ảm đạm, tâm lý chờ đợi trên thị trường mạnh, không thể thúc đẩy mua hàng giao ngay. Trên thị trường giao ngay, Nội Mông vừa giải phóng công suất vừa bảo dưỡng lò cao, dẫn đến ý muốn mua quặng mangan giảm. Tại Ninh Hạ, tỷ lệ vận hành của các nhà sản xuất dao động tương đối ít, do đó họ vẫn duy trì mức độ quan tâm mua hàng nhất định. Các nhà máy hợp kim ở miền Nam Trung Quốc nhìn chung vận hành ở mức thấp, chủ yếu mua theo nhu cầu cứng, với hoạt động giao dịch trì trệ. Hiện tại, các nhà sản xuất SiMn hầu hết áp dụng chiến lược mua hàng bổ sung hàng cho nhu cầu cứng và mua lô nhỏ theo giá thị trường, hoạt động thị trường sau kỳ nghỉ vẫn yếu, giao dịch chủ yếu là các lô nhỏ lẻ tẻ, và nhu cầu quặng mangan thực tế suy yếu nhẹ.
Về phía tồn kho, cảng Thiên Tân và cảng Khâm Châu chứng kiến tồn kho tăng, với lượng tồn kho quặng mangan ở mức tương đối cao, tồn kho cao kìm hãm đà tăng giá.
Hiện tại, phía chi phí hỗ trợ tương đối vững chắc cho đáy giá quặng, nhưng nhu cầu hợp kim hạ nguồn yếu và các nhà máy chỉ bổ sung hàng khi cần, hạn chế dư địa tăng của giá quặng. Dự kiến trong ngắn hạn, giá quặng mangan tại cảng sẽ dao động ngang trong biên độ hẹp nhờ chi phí cao, với xu hướng trì trệ, dư địa tăng và giảm đều bị hạn chế.



