Dữ liệu xuất nhập khẩu vật liệu pin tháng 5 được công bố, nhập khẩu lithium carbonate tiếp tục tăng so với cùng kỳ, các phân khúc khác ra sao? [SMM Đặc biệt]

Đã xuất bản: Jun 24, 2026 18:42

Vào khoảng ngày 24 tháng 6 năm 2026, dữ liệu xuất nhập khẩu tháng 5 đối với các sản phẩm liên quan đến chuỗi ngành pin lithium và coban đã được công bố. Số liệu cho thấy nhập khẩu spodumene trong tháng 5 tiếp tục giảm so với tháng 4, đạt 681.000 tấn khối lượng vật chất, giảm 10% so với tháng trước, tương đương khoảng 66.000 tấn LCE (lithium carbonate equivalent). Về mặt nhập khẩu lithium carbonate, Trung Quốc đã nhập khẩu 37.555 tấn lithium carbonate trong tháng 5, tăng 15% so với tháng trước và tăng 78% so với cùng kỳ năm ngoái. Lũy kế nhập khẩu lithium carbonate từ tháng 1 đến tháng 5 đạt 153.000 tấn, tăng 53% so với cùng kỳ năm trước... SMM đã tổng hợp tình hình xuất nhập khẩu vật liệu pin như sau:

Thượng nguồn


Tinh quặng lithium

Dữ liệu hải quan cho thấy nhập khẩu spodumene trong tháng 5 tiếp tục giảm so với tháng 4, đạt 681.000 tấn khối lượng vật chất. Theo quốc gia xuất xứ, lượng hàng đến cảng từ quặng Australia trở lại mức tương đối bình thường, với hơn 330.000 tấn cập cảng trong tháng này, giảm 6% so với tháng trước; các lô hàng từ Zimbabwe đã được xếp hàng trước đó đạt 63.800 tấn trong tháng này, giảm 41% so với tháng trước; xuất khẩu từ Nam Phi và Nigeria từ tháng 4 đến tháng 5 tương đối ổn định, với lượng hàng đến cảng từ 90.000 đến 110.000 tấn mỗi tháng. Lượng đến từ Mali trong tháng này thấp, chỉ đạt 38.000 tấn, tăng so với tháng trước nhưng chưa trở lại mức cao.

Ngoài ra, sau khi SMM sàng lọc, có thể thấy quặng nhập về trong tháng tương đương 66.000 tấn LCE. Tinh quặng lithium chiếm 81% lượng quặng nhập về, xu hướng tăng so với tháng trước.

Nguồn: Hải quan Trung Quốc, do SMM tổng hợp

> [Phân tích của SMM] Nhập khẩu spodumene của Trung Quốc đạt 681.000 tấn khối lượng vật chất trong tháng 5 năm 2026, giảm 10% so với tháng trước, tương đương khoảng 66.000 tấn LCE

Về báo giá giao ngay đối với tinh quặng spodumene (CIF Trung Quốc), theo báo giá giao ngay của SMM, báo giá giao ngay tinh quặng spodumene (CIF Trung Quốc) trong tháng 5 có xu hướng tăng trước rồi giảm sau. Tính đến ngày 29 tháng 5, báo giá giao ngay tinh quặng spodumene (CIF Trung Quốc) vào khoảng 2.571 USD/tấn, tăng 31 USD/tấn so với mức 2.540 USD/tấn vào cuối tháng 4, tăng 1,22%.

Vào tháng 5, các doanh nghiệp mua spodumen từ bên ngoài để chiết xuất lithi vẫn lơ lửng quanh điểm hòa vốn. Đầu tháng, giá lithi cacbonat phục hồi, nhưng tinh quặng spodumen theo đó cũng tăng và có thời điểm tăng cao hơn giá muối, dẫn đến tiếp tục thua lỗ. Trong nửa đầu tháng 5, giá lithi cacbonat tăng thêm, và các doanh nghiệp không tích hợp có thể đạt được lợi nhuận mỏng trên giao ngay trong thời gian ngắn; sau giữa tháng, giá quặng dao động ở mức cao trong khi lithi cacbonat giảm trở lại, khiến các doanh nghiệp rơi vào thua lỗ trở lại, kéo dài đến cuối tháng. Các doanh nghiệp mua lepidolit từ bên ngoài để chiết xuất lithi tiếp tục có lợi nhuận ổn định trong tháng 5. Mặc dù giá tinh quặng lepidolit dao động ở mức cao do nguồn cung khan hiếm, mức tăng của chúng nhỏ hơn mức tăng của lithi cacbonat, để lại biên lợi nhuận cho khâu luyện kim. Ngày 12 tháng 5: Yichun Mining đấu giá 5.700 tấn tinh quặng lepidolit 2% với giá giao dịch 5.760 nhân dân tệ/tấn, phản ánh tình trạng cân bằng mong manh ở phía quặng.

Tính đến ngày 24 tháng 6, giá giao ngay tinh quặng spodumen (CIF Trung Quốc) giữ ở mức 2.291 USD/tấn.


Lithi Cacbonat


Theo số liệu hải quan, Trung Quốc nhập khẩu 37.555 tấn lithi cacbonat trong tháng 5, tăng 15% so với tháng trước và tăng 78% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, 24.522 tấn từ Chile (65% tổng nhập khẩu), 11.422 tấn từ Argentina (30%), và 1.023 tấn từ Indonesia (3%). Từ tháng 1 đến tháng 5, tổng nhập khẩu lithi cacbonat của Trung Quốc đạt 153.000 tấn, tăng 53% so với cùng kỳ.

Trong tháng 5, Trung Quốc xuất khẩu 201 tấn lithi cacbonat, giảm 46% so với tháng trước và giảm 30% so với cùng kỳ. Tổng xuất khẩu từ tháng 1 đến tháng 5 đạt 2.087 tấn, tăng 1% so với cùng kỳ.

Trung Quốc nhập khẩu 12.107 tấn lithi sunfat trong tháng 5, giảm 33% so với tháng trước nhưng tăng 53% so với cùng kỳ. Tổng nhập khẩu từ tháng 1 đến tháng 5 đạt 71.000 tấn, tăng 105% so với cùng kỳ.

Theo dữ liệu giá giao ngay của SMM, giá lithi cacbonat giao ngay trong tháng 5 cũng thể hiện xu hướng tăng trước rồi giảm sau. Tính đến ngày 29 tháng 5, giá lithi cacbonat giao ngay ở mức 177.500 nhân dân tệ/tấn, tăng 500 nhân dân tệ/tấn so với mức 177.000 nhân dân tệ/tấn vào ngày 30 tháng 4, tăng 0,28%.

》Nhấp để xem giá giao ngay sản phẩm Năng lượng Mới của SMM

Nhìn lại thị trường lithi cacbonat tháng 5, theo SMM, giá lithi cacbonat giao ngay tại Trung Quốc dao động tăng với mức tăng đáng kể ở vùng giá trung tâm, và giá trung bình tháng tăng 12% so với tháng trước. Từ phía cơ bản, gián đoạn về nguồn cung tiếp tục trầm trọng, trong khi bên cầu, kế hoạch sản xuất vật liệu cathode hạ nguồn và tế bào pin vẫn duy trì ở mức cao. Lịch sản xuất tháng 6 dự kiến sẽ còn gia tăng hơn nữa, và sự mất cân đối tạm thời giữa cung và cầu vẫn chưa được giải quyết. Các nhà máy hóa chất lithium thượng nguồn giữ giá vững và hạn chế bán ra trong suốt tháng. Hạ nguồn cho thấy sự phân hóa: một số doanh nghiệp mua vào khi giá giảm, nhưng phần lớn ít chấp nhận mức giá cao và chủ yếu mua sắm kịp thời, khiến giao dịch thực tế khá ảm đạm. Trong tháng 5, giá lithium carbonate cấp pin giao ngay tiếp tục tăng trong bối cảnh biến động, với mức tăng đáng kể vào cuối tháng so với đầu tháng. Hợp đồng tương lai giao dịch nhiều nhất có lúc đã vượt mốc 200.000 nhân dân tệ/tấn trong tháng.

Tính đến ngày 24 tháng 6, giá lithium carbonate cấp pin giao ngay được báo ở mức 154.000 - 161.000 nhân dân tệ/tấn, trung bình 157.500 nhân dân tệ/tấn. Theo SMM, bước sang tháng 6, thị trường lithium carbonate chứng kiến cuộc giằng co rõ rệt giữa phe mua và phe bán, với mức giá trung tâm dịch chuyển thấp hơn đáng kể so với tháng 5. Bên nguồn cung, những gián đoạn như xuất khẩu giảm từ Chile và việc gia hạn giấy phép các mỏ tại Giang Tây đã hỗ trợ đáy cho giá lithium carbonate. Tuy nhiên, áp lực từ lượng chứng chỉ lưu kho cao cùng kỳ vọng về nguồn quặng Zimbabwe đến đã hạn chế đà tăng giá. Các nhà máy vật liệu hạ nguồn duy trì chiến lược mua khi giá giảm, sẵn sàng mua vào mạnh hơn khi giá chạm mức tâm lý nhưng thiếu động lực đuổi theo đà tăng. Trong khi đó, các nhà máy hóa chất lithium thượng nguồn vẫn giữ tâm lý neo giá. Hiện tại, cuộc giằng co giữa hai phe ngày càng gay gắt. Trong thời gian tới, cần theo dõi sát sao điểm bước ngoặt của các chứng chỉ lưu kho, tốc độ đến của quặng lithium Zimbabwe, và mức độ hiện thực hóa lịch sản xuất hạ nguồn. Báo giá lithium carbonate giao ngay dự kiến sẽ vẫn ảm đạm trong ngắn hạn.


Lithi Hydroxit

Theo số liệu hải quan, trong tháng 5 năm 2026, Trung Quốc nhập khẩu 3.932 tấn lithi hydroxit, giảm 41% so với tháng trước và tăng gần gấp bốn lần so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhập khẩu từ Hàn Quốc đạt 2.029 tấn, chiếm 51% tổng nhập khẩu; từ Indonesia là 360 tấn, ghi nhận sự sụt giảm đáng kể; từ Úc và Chile là 1.204 tấn, chiếm 30%. Tháng 5, Trung Quốc xuất khẩu 3.549 tấn lithium hydroxide, giảm 36% so với tháng trước và giảm 36% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó 2.799 tấn sang Hàn Quốc và 608 tấn sang Nhật Bản.


Vật liệu pin


LFP


Tháng 5 năm 2026, xuất khẩu LFP của Trung Quốc đạt 7.625,4 tấn, tăng 29,3% so với tháng 4 và tăng 710,0% so với cùng kỳ năm ngoái, lập mức cao kỷ lục mới trong năm. Về giá cả, tổng giá trị xuất khẩu tháng 5 đạt 62,6062 triệu USD, với đơn giá trung bình khoảng 8.210 USD/tấn, tương đương khoảng 55.951 nhân dân tệ/tấn, tăng khoảng 6,9% so với mức trung bình tháng 4.

Về thị trường xuất khẩu, tháng 5 có sự thay đổi đáng chú ý: xuất khẩu sang Mỹ cao nhất với 3.014,7 tấn, vươn lên vị trí thứ nhất; Thái Lan xếp thứ hai với 2.030,6 tấn; xuất khẩu sang Malaysia đạt khoảng 886 tấn, xếp thứ ba; Nhật Bản và Việt Nam lần lượt đạt 620 tấn và 420 tấn. So với tháng 4, xuất khẩu sang Việt Nam và Thái Lan tăng mạnh, trong khi xuất khẩu sang Ba Lan và Canada giảm. Trọng tâm xuất khẩu chuyển dịch sang Đông Nam Á và Mỹ, điều này liên quan chặt chẽ đến vị trí khách hàng của các nhà sản xuất pin.

Nhìn chung, nhu cầu nước ngoài vẫn mạnh. Tổng xuất khẩu LFP của Trung Quốc tiếp tục tăng, đạt mức tăng trưởng gấp nhiều lần so với cùng kỳ. Trong tương lai, khi công suất pin ở nước ngoài dần đi vào hoạt động, xuất khẩu LFP của Trung Quốc dự kiến sẽ duy trì ở mức cao.


LiPF6


Theo số liệu hải quan Trung Quốc, tháng 5 năm 2026, xuất khẩu lũy kế LiPF6 của Trung Quốc đạt khoảng 1.500 tấn, tăng khoảng 72,8% so với tháng trước, trong khi nhập khẩu lũy kế LiPF6 đạt khoảng 53,5 tấn.

Về xuất khẩu, tháng 5 năm 2026, xuất khẩu LiPF6 của Trung Quốc đạt khoảng 1.500 tấn, tăng khoảng 72,8% so với tháng 4 và tăng khoảng 15,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Cụ thể, trong tháng này, LiPF6 chủ yếu được xuất khẩu sang Hàn Quốc, Ba Lan, Malaysia, Nhật Bản và các nước khác. Xuất khẩu sang Ba Lan đạt 451,88 tấn, tăng khoảng 33,89% so với tháng trước; xuất khẩu sang Hàn Quốc đạt 591,006 tấn, tăng khoảng 622,47% so với tháng trước; xuất khẩu sang Nhật Bản đạt 109,8 tấn, giảm khoảng 42,62% so với tháng trước; và xuất khẩu sang Mỹ đạt 77,4 tấn, giảm khoảng 24,05% so với tháng trước. Nhìn chung, khối lượng mua LiPF6 ở nước ngoài đã hồi phục phần nào trong tháng 5.


Than chì nhân tạo


Trong tháng 5/2026, nhập khẩu than chì nhân tạo của Trung Quốc đạt 980 tấn, tăng 29,5% so với tháng trước nhưng giảm 21,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Về giá nhập khẩu trung bình, trong tháng 5/2026, giá nhập khẩu trung bình than chì nhân tạo của Trung Quốc đạt 60.148 nhân dân tệ/tấn, giảm 20,8% so với tháng trước nhưng tăng 37,3% so với cùng kỳ.

Trong tháng 5/2026, xuất khẩu than chì nhân tạo của Trung Quốc đạt 50.038 tấn, tăng 9,03% so với tháng trước nhưng giảm 4% so với cùng kỳ. Về giá xuất khẩu trung bình, trong tháng 5/2026, giá xuất khẩu trung bình than chì nhân tạo của Trung Quốc đạt 7.729 nhân dân tệ/tấn, giảm 16,12% so với tháng trước và giảm 12,91% so với cùng kỳ.

Nhìn vào tổng thể số liệu xuất khẩu, mặc dù tổng xuất khẩu than chì nhân tạo ghi nhận tăng trưởng so với tháng trước trong tháng 5, song tổng lượng xuất khẩu của năm tỉnh xuất khẩu hàng đầu Trung Quốc lại giảm 19% so với tháng trước. Diễn biến theo từng tỉnh có sự phân hóa rõ rệt, với hai tỉnh ghi nhận xuất khẩu giảm mạnh tới 40% so với tháng trước, một tỉnh khác giảm gần 30%, và các khu vực sản xuất chính cho thấy xuất khẩu yếu đi rõ rệt.


Than chì vảy


Trong tháng 5/2026, nhập khẩu than chì vảy của Trung Quốc đạt 5.944 tấn, tăng 87% so với tháng trước và tăng 22% so với cùng kỳ.

Nguồn dữ liệu: Hải quan Trung Quốc, SMM

Trong tháng 5/2026, xuất khẩu than chì vảy của Trung Quốc đạt 7.641 tấn, tăng 87% so với tháng trước nhưng giảm 12% so với cùng kỳ.

Mức tăng mạnh 87% so với tháng trước trong xuất khẩu than chì vảy giai đoạn này chủ yếu do hiệu ứng nền thấp từ việc giao hàng xuất khẩu bị trì hoãn trong tháng 4. Bị ảnh hưởng bởi sự chậm trễ logistics, hoãn tiến độ sản xuất và các yếu tố khác, lượng xuất khẩu trong tháng 4 ở mức tương đối thấp, và các đơn hàng xuất khẩu bị tồn đọng trước đó đã được tập trung khai báo hải quan và giao hàng trong tháng 5, thúc đẩy mức tăng mạnh so với tháng trước về khối lượng xuất khẩu trong tháng này.


Quặng phốt phát


Trong tháng 5/2026, nhập khẩu quặng phốt phát của Trung Quốc đạt 131.000 tấn, giảm 36,4% so với tháng trước, với giá trung bình 93 USD/tấn, giảm nhẹ 2,6% so với tháng trước. Nguồn nhập khẩu tập trung cao độ vào Ai Cập (128 nghìn tấn, chiếm 97,7%), trong khi các lô hàng từ Peru và Jordan bị gián đoạn. Xuất khẩu đạt 32 nghìn tấn, tăng 189,6% so với tháng trước, trong đó Hồ Bắc nối lại xuất khẩu 21 nghìn tấn. Chính phủ Ai Cập đã tạm dừng ký hợp đồng xuất khẩu mới vào giữa tháng 5, làm gia tăng sự bất ổn về nguồn cung trong thời gian tới, có thể tiếp tục gây áp lực lên chi phí nhập khẩu. Cơ cấu tỉnh thành có sự thay đổi lớn khi nhập khẩu của Hồ Bắc giảm về 0 và Quảng Tây giành lại vị trí dẫn đầu.

Đặc điểm thị trường nhập khẩu quặng phốt phát Trung Quốc tháng 5:

Thứ nhất, tổng khối lượng giảm đáng kể, nhập khẩu giảm hơn một phần ba so với tháng trước; thứ hai, nguồn cung tập trung cao, riêng Ai Cập chiếm tới 97,7%, trong khi các lô hàng từ Peru và Jordan bị gián đoạn; thứ ba, cơ cấu tỉnh thành thay đổi mạnh mẽ, khi nhập khẩu của Hồ Bắc giảm về 0 và Quảng Tây giành lại vị trí dẫn đầu. Chính phủ Ai Cập thông báo vào giữa tháng 5 sẽ ngừng ký kết hợp đồng xuất khẩu quặng phốt phát mới. Sự bất ổn về nguồn cung hàng từ Ai Cập sẽ tăng lên rõ rệt trong những tháng tới, có thể đẩy chi phí nhập khẩu tăng cao và làm trầm trọng thêm tình trạng khan hiếm nguồn cung. Đồng thời, sự phục hồi xuất khẩu từ Hồ Bắc và Quý Châu phản ánh sự tái cân bằng trong mô hình cung cầu khu vực đối với quặng phốt phát trong nước.


Coban


Sản phẩm trung gian thủy luyện coban


Tháng 5 năm 2026, nhập khẩu sản phẩm trung gian thủy luyện coban của Trung Quốc đạt khoảng 2.584 tấn trọng lượng thực, tăng 107% so với tháng trước và giảm 95% so với cùng kỳ. Nhập khẩu từ CHDC Congo đạt khoảng 2.066 tấn trọng lượng thực, tăng 119% so với tháng trước và giảm 96% so với cùng kỳ. Giá nhập khẩu trung bình sản phẩm trung gian thủy luyện coban tại Trung Quốc tháng 5/2026 là 16.607 USD/tấn trọng lượng thực, giảm 3,37% so với tháng trước. Các báo cáo cho biết một số công ty khai thác do Trung Quốc đầu tư đã tăng dần các chuyến hàng thuê tàu từ tháng 5, trong khi nhiều công ty khai thác lớn dần nối lại hoạt động vận chuyển từ tháng 6 trở đi. Lượng hàng trung gian cập cảng dự kiến sẽ tăng nhẹ trong những tháng tới và có khả năng đạt khối lượng hàng rời lớn sau tháng 8.


Coban chưa gia công


Tháng 5/2026, nhập khẩu coban chưa gia công của Trung Quốc đạt khoảng 673 tấn, giảm 50% so với tháng trước và tăng 3% so với cùng kỳ. Trong tháng 5, ba nguồn nhập khẩu coban tinh luyện hàng đầu là Indonesia (211 tấn), Madagascar (93 tấn) và Canada (85 tấn). Sự sụt giảm mạnh về nhập khẩu so với tháng trước chủ yếu do cạn kiệt nguyên liệu coban giá thấp đã được tích trữ trước đó bên ngoài Trung Quốc, trong khi các tấm coban và bánh coban mới nhập khẩu có giá cao hơn các nguyên liệu coban nội địa khác, làm giảm nhu cầu mua vào để hòa tan của các nhà luyện kim. Giá nhập khẩu trung bình coban chưa gia công tại Trung Quốc trong tháng 5 năm 2026 là 54.557 USD/tấn, tăng 3,48% so với tháng trước. Tổng nhập khẩu lũy kế từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2026 đạt 6.589 tấn, tăng 120% so với cùng kỳ năm ngoái.

Về xuất khẩu, trong tháng 5 năm 2026, xuất khẩu coban chưa gia công của Trung Quốc đạt khoảng 370 tấn, tăng 70% so với tháng trước và giảm 88% so với cùng kỳ năm ngoái. Theo điểm đến, xuất khẩu sang Hà Lan tăng vọt lên 205 tấn trong tháng 5, tăng 791% so với tháng trước. Giá xuất khẩu trung bình của coban chưa gia công Trung Quốc trong tháng 5 năm 2026 là 53.403 USD/tấn, giảm 2,17% so với tháng trước. Tổng xuất khẩu lũy kế từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2026 đạt 2.161 tấn, giảm 79% so với cùng kỳ năm ngoái.

Tuyên bố về Nguồn Dữ liệu: Ngoại trừ thông tin công khai, tất cả dữ liệu khác được SMM xử lý dựa trên thông tin công khai, giao tiếp thị trường và dựa trên mô hình cơ sở dữ liệu nội bộ của SMM. Chúng chỉ mang tính chất tham khảo và không cấu thành khuyến nghị ra quyết định.

Hình ảnh trong bài viết này có chú thích được AI dịch, chỉ để tham khảo.

Để biết thêm thông tin hoặc có thắc mắc gì, vui lòng liên hệ: lemonzhao@smm.cn
Để biết thêm thông tin về cách truy cập báo cáo nghiên cứu, vui lòng liên hệ:service.en@smm.cn
Tin Liên Quan
Bộ Thương mại và tám bộ, ngành khác ban hành Thông báo về các biện pháp thúc đẩy tiêu dùng thị trường hậu mãi ô tô.
2 giờ trước
Bộ Thương mại và tám bộ, ngành khác ban hành Thông báo về các biện pháp thúc đẩy tiêu dùng thị trường hậu mãi ô tô.
Đọc thêm
Bộ Thương mại và tám bộ, ngành khác ban hành Thông báo về các biện pháp thúc đẩy tiêu dùng thị trường hậu mãi ô tô.
Bộ Thương mại và tám bộ, ngành khác ban hành Thông báo về các biện pháp thúc đẩy tiêu dùng thị trường hậu mãi ô tô.
Bộ Thương mại và tám bộ ngành khác đã cùng ban hành Thông báo về Một số Biện pháp Phát triển và Mở rộng Tiêu dùng trong Thị trường Hậu mãi Ô tô. Các biện pháp bao gồm sáu lĩnh vực chính và 17 hành động cụ thể, như: tiêu chuẩn hóa và phát triển có trật tự hoạt động độ xe, hỗ trợ phát triển ngành xe nhà di động và cắm trại, tạo dựng hình thức kinh doanh mới cho xe cổ truyền thống, tối ưu hóa dịch vụ sửa chữa ô tô và cung ứng bảo hiểm, tích cực phát triển thể thao đua xe, và thúc đẩy phát triển đổi mới tích hợp của dịch vụ cho thuê xe.
2 giờ trước
Người dùng coban cảnh báo các quy định y tế của EU đe dọa nỗ lực thúc đẩy cung ứng khoáng sản
3 giờ trước
Người dùng coban cảnh báo các quy định y tế của EU đe dọa nỗ lực thúc đẩy cung ứng khoáng sản
Đọc thêm
Người dùng coban cảnh báo các quy định y tế của EU đe dọa nỗ lực thúc đẩy cung ứng khoáng sản
Người dùng coban cảnh báo các quy định y tế của EU đe dọa nỗ lực thúc đẩy cung ứng khoáng sản
Một số công ty sử dụng coban hàng đầu của Liên minh châu Âu cảnh báo các quy định dự kiến nhằm bảo vệ sức khỏe người lao động thay vào đó sẽ đe dọa nỗ lực của khối nhằm củng cố chuỗi cung ứng khoáng sản và các ngành công nghiệp như năng lượng và quốc phòng. Ủy ban châu Âu hôm thứ Ba sẽ quyết định có phê duyệt dự luật giảm phơi nhiễm bụi và hạt coban cho người lao động để phòng chống ung thư và các bệnh hô hấp khác hay không. Nhưng các công ty trong chuỗi cung ứng cho biết giới hạn đề xuất là quá nghiêm ngặt, tốn kém và khó đáp ứng, có nguy cơ khiến doanh nghiệp đóng cửa và chuyển hướng đầu tư ra khỏi EU.
3 giờ trước
Lệnh trừng phạt của Mỹ đóng cửa nhà máy lọc cobalt duy nhất của Canada
3 giờ trước
Lệnh trừng phạt của Mỹ đóng cửa nhà máy lọc cobalt duy nhất của Canada
Đọc thêm
Lệnh trừng phạt của Mỹ đóng cửa nhà máy lọc cobalt duy nhất của Canada
Lệnh trừng phạt của Mỹ đóng cửa nhà máy lọc cobalt duy nhất của Canada
Sherritt International (TSX: S) đã bắt đầu đóng cửa nhà máy tinh luyện Fort Saskatchewan sau khi các lệnh trừng phạt mở rộng của Mỹ đối với Cuba làm gián đoạn nguồn cung nguyên liệu đầu vào cần thiết để duy trì hoạt động của cơ sở này tại Alberta, Canada. Nhà sản xuất niken và coban có trụ sở tại Toronto cho biết quá trình chuyển đổi này diễn ra theo hướng dẫn trước đó rằng hoạt động của nhà máy sẽ chỉ tiếp tục đến giữa tháng 6 dựa trên lượng tồn kho hiện có. Công ty đã triển khai các quy trình đóng cửa và sẽ giữ lại nhân sự cùng các nguồn lực cần thiết để duy trì cơ sở ở trạng thái an toàn và đảm bảo trong khi hoạt động bị tạm ngưng. Sherritt cho biết công ty đang bảo toàn tiền mặt, quản lý chi phí và chuẩn bị cho nhà máy có thể khởi động lại trong khi tiến hành công tác bảo trì trong thời gian đóng cửa. Việc đóng cửa này là hậu quả mới nhất từ lập trường cứng rắn hơn của Washington đối với Cuba và cho thấy tính dễ tổn thương của các chuỗi cung ứng phụ thuộc vào ngành khai thác mỏ của hòn đảo này. Sherritt khai thác niken và coban tại liên doanh Moa ở miền đông Cuba và chế biến nguyên liệu này tại nhà máy tinh luyện gần Edmonton.
3 giờ trước
Dữ liệu xuất nhập khẩu vật liệu pin tháng 5 được công bố, nhập khẩu lithium carbonate tiếp tục tăng so với cùng kỳ, các phân khúc khác ra sao? [SMM Đặc biệt] - Shanghai Metals Market (SMM)