Tháng 6/2026, nhập khẩu quặng phốt phát của Trung Quốc tăng nhẹ so với tháng trước, thị phần Ai Cập giảm mạnh, Jordan và Ma-rốc tham gia thay thế.

Đã xuất bản: Jun 21, 2026 22:21
Ngày 20/07/2026, Dữ liệu Hải quan. Tháng 6 năm 2026, nhập khẩu quặng phosphat của Trung Quốc đạt 137.000 tấn, tăng 4,5% so với tháng trước từ mức 131.000 tấn của tháng 5. Tổng giá trị nhập khẩu đạt 12,57 triệu USD, tăng 2,8% so với tháng trước. Giá nhập khẩu trung bình ở mức 91,5 USD/tấn, giảm 1,7% so với tháng trước từ mức 93,0 USD/tấn của tháng 5.

2026-07-20, Dữ liệu Hải quan. Tháng 6 năm 2026, nhập khẩu quặng phốt phát của Trung Quốc đạt 137.000 tấn, tăng 4,5% so với tháng trước từ mức 131.000 tấn của tháng 5. Tổng giá trị nhập khẩu là 12,57 triệu USD, tăng 2,8% so với tháng trước. Giá nhập khẩu trung bình ở mức 91,5 USD/tấn, giảm 1,7% so với tháng trước từ mức 93,0 USD/tấn trong tháng 5.

Trong tháng 5 năm 2026, Trung Quốc nhập khẩu 131.000 tấn quặng phốt phát, giảm 36,4% so với tháng 4, với giá trung bình giảm 2,6% xuống còn 93 USD/tấn. Sự sụt giảm mạnh là do nguồn cung từ Peru và Jordan đột ngột dừng lại – cả hai đều là nguồn chính trong tháng 4 – khiến Ai Cập trở thành nhà cung cấp độc quyền duy nhất (128.000 tấn, chiếm 98% thị phần). Trong khi đó, Hồ Bắc, tỉnh dẫn đầu nhập khẩu trong tháng 4, ghi nhận lượng nhập khẩu bằng không trong tháng 5, trong khi Quảng Tây phục hồi lên vị trí thứ nhất với 78.000 tấn. Xuất khẩu tăng hơn gấp đôi lên 32.000 tấn, dẫn dắt bởi sự trở lại của Hồ Bắc trên thị trường.

I. Tổng quan tháng 5/2026

Nhập khẩu tháng 5 giảm 36,4% so với tháng trước xuống 131.000 tấn, với giá trị giảm 38,1% xuống 12,23 triệu USD và giá trung bình giảm 2,6% xuống 93,0 USD/tấn. Ai Cập chiếm ưu thế với 128.000 tấn (tăng 31,7% so với tháng trước), chiếm 97,7% tổng lượng nhập khẩu. Peru và Jordan không ghi nhận lô hàng nào. Sự kiện chính: Vào ngày 13 tháng 5, Bộ Dầu khí và Tài nguyên Khoáng sản Ai Cập tuyên bố sẽ ngừng ký kết các hợp đồng xuất khẩu quặng phốt phát mới, chuyển hướng sang xuất khẩu phân bón phốt phát có giá trị cao hơn. Giá nhập khẩu Ai Cập tăng 14,1% so với tháng trước lên 93,0 USD/tấn, với giá CFR Trung Quốc (hàm lượng 26-27%) ở mức 95-100 USD/tấn. Theo tỉnh, Quảng Tây giành lại vị trí dẫn đầu với 78.000 tấn (tăng 65,9% so với tháng trước); Hồ Bắc, tỉnh dẫn đầu tháng 4 với 157.000 tấn, ghi nhận lượng nhập khẩu bằng không trong tháng 5 (giảm 100% so với tháng trước).

Xuất khẩu tháng 5 tăng vọt 189,6% so với tháng trước lên 32.000 tấn, dẫn đầu bởi Hồ Bắc (21.000 tấn), Phúc Kiến (6.000 tấn, giảm 40,6% so với tháng trước) và Quý Châu (5.000 tấn).

II. Phân tích tháng 6/2026

1. Nhập khẩu: Sản lượng hồi phục nhẹ, giá đi xuống

Nhập khẩu tháng 6 tăng nhẹ 4,5% so với tháng trước lên 137.000 tấn; giá trị tăng 2,8% lên 12,57 triệu USD; giá trung bình giảm 1,7% xuống 91,5 USD/tấn. Sự phục hồi khiêm tốn của sản lượng cùng với giá giảm báo hiệu một giai đoạn chuyển tiếp "phục hồi sản lượng, đa dạng hóa nguồn cung" sau cú sốc chính sách từ Ai Cập.

2. Tái cấu trúc quốc gia nguồn cung: Thị phần Ai Cập giảm xuống còn 61%, Jordan/Ma-rốc/Kazakhstan lấp đầy khoảng trống

Sự tập trung nguồn cung duy nhất trong tháng 5 đã bị đảo ngược mạnh mẽ. Ai Cập nhập khẩu giảm từ 128.000 tấn xuống 84.000 tấn (giảm 34,7% so với tháng trước) nhưng vẫn giữ vị trí dẫn đầu; thị phần giảm mạnh từ 97,7% xuống còn khoảng 61%, phản ánh tác động thực sự của lệnh cấm xuất khẩu ngày 13 tháng 5. Jordan nhập khẩu bùng nổ từ mức gần như bằng không (khoảng 1 tấn) lên 48.000 tấn, tăng gấp khoảng 48 nghìn lần so với tháng trước, leo lên vị trí thứ hai; giá nhập khẩu là 95 USD/tấn. Pakistan vận chuyển 6.000 tấn (tăng 71,6% so với tháng trước). Maroc, Kazakhstan, Peru và Liban đóng góp tổng cộng khoảng 2.000 tấn, trong đó Maroc có mức giá cao đặc biệt 5.050 USD/tấn và Kazakhstan là 2.895,2 USD/tấn cho quặng chất lượng cao.

Khoảng cách ngày càng lớn giữa giá trị (tăng 2,8% so với tháng trước) và sản lượng (tăng 4,5% so với tháng trước) càng khẳng định sự suy giảm giá cơ cấu do thị phần Ai Cập giảm.

3. Tình hình theo tỉnh: Quảng Tây giữ vị trí dẫn đầu, Chiết Giang tăng vọt gấp ~89 lần, Hồ Bắc trở lại với giá cao

Quảng Tây giữ vị trí dẫn đầu với 84.000 tấn (tăng 6,7% so với tháng trước), giá trị nhập khẩu 7,51 triệu USD (tăng 6,8% so với tháng trước). Chiết Giang nhập khẩu tăng vọt từ khoảng 500 tấn lên 48.000 tấn (tăng 8.884,7% so với tháng trước, gấp ~89 lần), với giá trị tăng 9.546,4% lên 4,54 triệu USD, phản ánh sự chuyển đổi nhanh chóng kênh nhập khẩu của các nhà nhập khẩu khu vực đồng bằng sông Dương Tử sang Jordan và các nguồn thay thế khác. Hồ Bắc khôi phục một phần nhập khẩu với giá 389,5 USD/tấn, cao hơn nhiều so với mức trung bình toàn quốc, cho thấy việc thu mua quặng chất lượng cao. Bắc Kinh ghi nhận mức giá cao nhất theo tỉnh là 934,5 USD/tấn. Vân Nam ghi nhận lượng nhập khẩu bằng không (giảm 100% so với tháng trước).

4. Xuất khẩu: 51.000 tấn, tăng 58,3% so với tháng trước, dẫn đầu bởi Vân Nam và Phúc Kiến

Xuất khẩu tháng 6 tăng vọt 58,3% so với tháng trước lên 51.000 tấn. Vân Nam dẫn đầu với 34.000 tấn (bằng không trong tháng 5), được thúc đẩy bởi việc giao hàng tập trung các đơn hàng từ trước của Tập đoàn Phosphate Vân Nam và Yuntianhua. Phúc Kiến xuất khẩu 17.000 tấn (tăng 158,5% so với tháng trước). Quý Châu và Hồ Bắc ghi nhận lượng xuất khẩu bằng không. Sự tăng vọt xuất khẩu phản ánh nguồn cung trong nước thắt chặt trong bối cảnh kỳ vọng dự trữ mùa đông mạnh mẽ và nhu cầu LFP (lithium iron phosphate) tăng nhanh từ chuỗi năng lượng mới.

III. Triển vọng thị trường

Nhập khẩu quặng phốt phát tháng 6 cho thấy bốn đặc điểm: (1) Sản lượng hồi phục nhẹ nhưng thấp hơn kỳ vọng; (2) Đa dạng hóa nguồn cung mạnh mẽ — thị phần Ai Cập giảm mạnh từ 97,7% xuống còn khoảng 61%, với Jordan, Pakistan và Maroc lấp vào; (3) Tái cấu trúc kênh nhập khẩu theo tỉnh tăng tốc — Quảng Tây giữ vững, Chiết Giang tăng gấp 89 lần, Hồ Bắc trở lại với giá cao; (4) Xuất khẩu tăng 58,3% nhờ sức mạnh từ Vân Nam và Phúc Kiến, cho thấy nguồn cung trong nước thắt chặt.

Triển vọng quý III: Tác động của lệnh cấm xuất khẩu từ Ai Cập sẽ tiếp tục lan tỏa. Nhập khẩu tháng 7-8 dự kiến đạt 130.000-150.000 tấn, với giá trong khoảng 90-100 USD/tấn. Ba điểm cần theo dõi chính: (1) Độ ổn định nguồn cung và cơ cấu hàm lượng của các nguồn thay thế (Jordan, Maroc, v.v...); (2) Tốc độ kéo cầu theo mùa của phân bón phốt phát và LFP trong nước; (3) Chính sách xuất khẩu và thay đổi nhịp hải quan trước mùa dự trữ mùa đông tháng 10-11. Giá nhập khẩu trung bình quý III dự báo ở mức 90-100 USD/tấn, với sản lượng quý IV sẽ phục hồi và trung tâm giá có thể dịch chuyển lên 95-105 USD/tấn khi nhu cầu dự trữ mùa đông hiện thực hóa.

 

Lưu ý: Nếu bạn có bất kỳ thông tin chi tiết nào cần bổ sung liên quan đến các điểm được đề cập trong bài viết này, hoặc nếu bạn có câu hỏi về ngành hóa chất phốt pho (quặng phốt phát, axit photphoric, sắt photphat, lithium sắt photphat, v.v...) và pin trạng thái rắn, xin vui lòng liên hệ:

Điện thoại: 021-20707860 (hoặc thêm WeChat: 13585549799) – Yang Chaoxing. Cảm ơn!

Tuyên bố về Nguồn Dữ liệu: Ngoại trừ thông tin công khai, tất cả dữ liệu khác được SMM xử lý dựa trên thông tin công khai, giao tiếp thị trường và dựa trên mô hình cơ sở dữ liệu nội bộ của SMM. Chúng chỉ mang tính chất tham khảo và không cấu thành khuyến nghị ra quyết định.

Để biết thêm thông tin hoặc có thắc mắc gì, vui lòng liên hệ: lemonzhao@smm.cn
Để biết thêm thông tin về cách truy cập báo cáo nghiên cứu, vui lòng liên hệ:service.en@smm.cn
Tin Liên Quan
Đánh giá hằng ngày của SMM: Giá cacbonat liti giao ngay tăng trong biên độ biến động vào ngày 17 tháng 8
1 giờ trước
Đánh giá hằng ngày của SMM: Giá cacbonat liti giao ngay tăng trong biên độ biến động vào ngày 17 tháng 8
Đọc thêm
Đánh giá hằng ngày của SMM: Giá cacbonat liti giao ngay tăng trong biên độ biến động vào ngày 17 tháng 8
Đánh giá hằng ngày của SMM: Giá cacbonat liti giao ngay tăng trong biên độ biến động vào ngày 17 tháng 8
[SMM Đánh giá hằng ngày: Giá lithium carbonate giao ngay tăng trong biên độ biến động vào ngày 17/8] Giá giao ngay lithium carbonate cấp pin theo SMM tăng trong biên độ biến động so với ngày giao dịch trước. Hợp đồng lithium carbonate được giao dịch nhiều nhất chuyển kỳ từ 2609 sang 2701. Hợp đồng mở cửa tăng tại 155.600 NDT/tấn. Sau khi mở cửa, phe mua nhanh chóng đẩy giá lên, vọt lên 157.500 NDT/tấn để thiết lập mức cao trong ngày, rồi chịu áp lực bán từ phe bán và điều chỉnh trong trạng thái rung lắc. Trong phiên sáng, giá dao động trong khoảng 154.000–155.500 NDT/tấn, với vùng trung tâm dần hạ xuống. Gần giữa trưa, phe bán gia tăng bán ra, đẩy nhanh đà giảm xuống 151.800 NDT/tấn. Buổi chiều, giá tích lũy ở vùng thấp; dù có nhịp hồi nhẹ, giá vẫn không vượt được lực cản từ đường giá trung bình. Cuối phiên, giá đi ngang trong khoảng 153.300–153.500 NDT/tấn và chốt phiên giảm 0,44% xuống 153.500 NDT/tấn, trong khi số lượng vị thế mở tăng 18.658 lô. Trên thị trường giao ngay, các nhà máy vật liệu hạ nguồn mua theo nhu cầu khi giá giảm, nhưng khi giá tiếp tục trôi xuống trong trạng thái rung lắc, tâm lý chờ đợi vẫn rất mạnh. Chưa xuất hiện hoạt động bổ sung tồn kho quy mô lớn, và nhìn chung giao dịch vẫn chủ yếu dựa trên mua theo nhu cầu tức thời. Về phía cung, tâm lý giữ giá của các nhà máy hóa chất lithium thượng nguồn vẫn duy trì, và mức chào dùng cho việc giao hàng của một số đơn giao ngay cao hơn rõ rệt so với mức giao dịch thực tế trên thị trường; tuy nhiên, một số ít nhà máy hóa chất lithium vẫn duy trì nhịp bán đơn giao ngay ở mức bình thường. Nhìn chung, cả mức độ hỏi giá và giao dịch thực tế đều phục hồi phần nào.
1 giờ trước
[Pin lithium: Mitsubishi Motors dự định xây dựng nhà máy pin tại Philippines]
4 giờ trước
[Pin lithium: Mitsubishi Motors dự định xây dựng nhà máy pin tại Philippines]
Đọc thêm
[Pin lithium: Mitsubishi Motors dự định xây dựng nhà máy pin tại Philippines]
[Pin lithium: Mitsubishi Motors dự định xây dựng nhà máy pin tại Philippines]
Gần đây, Mitsubishi Motors Philippines Corporation tiết lộ rằng họ đang lên kế hoạch xây dựng một cơ sở lắp ráp pin xe điện mới, hiện đại. Tổng quy mô đầu tư của dự án đạt 7 tỷ peso Philippines, toàn bộ sẽ được đưa vào khuôn khổ hỗ trợ của Chiến lược Ưu đãi Xe điện (EVIS) mới của Philippines. Chủ tịch Mitsubishi Motors Philippines nêu rõ dự án dự kiến này tập trung vào lắp ráp pin nội địa hóa cho các mẫu xe hybrid, và ở giai đoạn này chưa có kế hoạch đưa hoạt động nghiên cứu và phát triển pin vào. Nút thắt chính hiện đang cản trở tiến độ dự án là việc chờ công bố chính thức các quy định triển khai chi tiết của chính sách EVIS. Ở cấp độ hoạch định công nghệ và chuỗi công nghiệp, Mitsubishi đặt mục tiêu định vị nhà máy pin tại Philippines này như một dây chuyền sản xuất chuẩn mực ở Đông Nam Á, với tiêu chuẩn kỹ thuật đồng bộ với các cơ sở sản xuất hiện có tại Thái Lan và Indonesia, và năng lực cạnh tranh tổng thể được đối sánh với các nhà máy trong nước tại Nhật Bản. Đồng thời, công ty sẽ từng bước thúc đẩy hỗ trợ nội địa hóa và đã khởi động thảo luận hợp tác với một số doanh nghiệp phụ tùng ô tô địa phương của Philippines nhằm xây dựng hệ thống chuỗi cung ứng tại chỗ.
4 giờ trước
[Pin Lithium: Công bố đánh giá tác động môi trường cho dự án vật liệu anot pin lithium tại Quý Châu]
4 giờ trước
[Pin Lithium: Công bố đánh giá tác động môi trường cho dự án vật liệu anot pin lithium tại Quý Châu]
Đọc thêm
[Pin Lithium: Công bố đánh giá tác động môi trường cho dự án vật liệu anot pin lithium tại Quý Châu]
[Pin Lithium: Công bố đánh giá tác động môi trường cho dự án vật liệu anot pin lithium tại Quý Châu]
Thông báo công khai lần thứ hai về đánh giá tác động môi trường của dự án sản xuất thông minh vật liệu pin lithium cao cấp công suất 200.000 tấn/năm tại Khu mới Gui’an (Quý Châu) đã được công bố. Dự án có tổng mức đầu tư 3,5549 tỷ nhân dân tệ. Dự kiến khởi công năm 2026, thời gian thi công 24 tháng. Thông báo đánh giá tác động môi trường lần thứ nhất của dự án được ban hành vào tháng 4/2026, và đây là thông báo lần thứ hai. Mục tiêu sản xuất là sản lượng hằng năm 200.000 tấn vật liệu cực âm pin lithium
4 giờ trước
Tháng 6/2026, nhập khẩu quặng phốt phát của Trung Quốc tăng nhẹ so với tháng trước, thị phần Ai Cập giảm mạnh, Jordan và Ma-rốc tham gia thay thế. - Shanghai Metals Market (SMM)