Tin nhanh ngày 11 tháng 6:
Quặng đất hiếm:
Hôm nay, giá quặng cacbonat đất hiếm dao động trong khoảng 55.900-56.100 NDT/tấn, giá monazit tạm ổn định ở mức 4,1-4,3 NDT/tấn, và giá quặng giàu yttri trung bình và europi ở mức khoảng 232.000-233.000 NDT/tấn. Hiện tại, lưu thông quặng đất hiếm trên thị trường vẫn chưa khả quan, các nhà máy tách chiết mua vào ít, dẫn đến hoạt động giao dịch trì trệ và giá giao dịch thực tế của quặng đất hiếm giảm nhẹ.
Ôxít đất hiếm:
Trong mảng đất hiếm nhẹ, giá ôxít lantan không biến động trong tuần này, ổn định ở mức 5.200-5.800 NDT/tấn. Thị trường ôxít xeri gần đây bắt đầu tăng, với giá được đẩy lên 15.000-15.500 NDT/tấn trong tuần. Do ảnh hưởng của các yếu tố tin tức, một số người trong ngành dự kiến nguồn cung ôxít Pr-Nd sẽ tăng đáng kể trong nửa cuối năm. Do đó, các nhà máy kim loại hạ nguồn tỏ ra ít mặn mà mua vào, khiến chào giá ôxít Pr-Nd giảm nhẹ. Tính đến hôm nay, giá ôxít Pr-Nd biến động và giảm xuống còn 690.000-693.000 NDT/tấn.
Trong mảng đất hiếm trung bình-nặng, các nhà cung cấp ôxít dysprosi giữ giá chào bán cứng, nhưng đơn hàng từ các nhà máy kim loại không theo kịp. Tuần này, giá ôxít dysprosi tạm ổn định trong khoảng 1,32-1,35 triệu NDT/tấn. Thị trường ôxít terbi tiếp tục chịu ảnh hưởng bởi tin tức và hoạt động mua vào quy mô lớn của các nhà máy lớn trong tuần này, với giá vẫn tăng đáng kể. Các nhà cung cấp đẩy mạnh chào giá lên 6,18-6,2 triệu NDT/tấn trong tuần. Giá ôxít gadolini dao động trong biên độ tương đối hẹp trong tuần này, với sự giằng co giữa thượng nguồn và hạ nguồn dẫn đến thế bế tắc. Một số thương nhân chủ động bán với giá thấp, khiến giá ôxít gadolini giảm xuống còn 200.000-204.000 NDT/tấn. Giá ôxít honmi tăng nhanh trong tuần này, với hoạt động hỏi mua sôi động từ hạ nguồn, và giá được đẩy lên nhanh chóng lên khoảng 555.000-565.000 NDT/tấn trong tuần. Các nhà cung cấp ôxít erbi cũng tăng chào giá đáng kể, nguồn hàng giá thấp thắt chặt nhanh chóng, và tính đến hôm nay, giá ôxít erbi tăng lên khoảng 450.000-455.000 NDT/tấn. Thị trường yttri oxit chứng kiến hoạt động thăm dò và mua sắm trì trệ, các nhà cung cấp chủ động hạ giá chào, và giá yttri oxit 5N giảm xuống 53.000-56.000 nhân dân tệ/tấn trong tuần này.
Kim loại đất hiếm:
Tuần này, giá kim loại xeri nhìn chung ổn định, điều chỉnh về mức 33.000-34.000 nhân dân tệ/tấn. Giá hợp kim praseodym-neodym tiếp tục giảm trong tuần này, tính đến hôm nay điều chỉnh về mức 835.000-843.000 nhân dân tệ/tấn. Đầu tuần, hoạt động thăm dò thị trường trì trệ, cuộc giằng co giữa thượng nguồn và hạ nguồn dẫn đến thế bế tắc, giá cả biến động ổn định. Giữa tuần, bị kéo xuống bởi giá trúng thầu thấp từ các nhà máy vật liệu từ tính lớn, phía hạ nguồn gia tăng sức ép đòi giá thấp hơn, và các nhà cung cấp dần nới lỏng giá chào của mình. Tuy nhiên, giá chào oxit vẫn tương đối cao, khiến các doanh nghiệp kim loại khó bán hàng với mức giá tương ứng chi phí nguyên liệu, dẫn đến thua lỗ. Hoạt động giao dịch trên thị trường vẫn ảm đạm. Trên thị trường đất hiếm nặng trung bình, hợp kim dysprosi-sắt chốt ở mức 1,27-1,3 triệu nhân dân tệ/tấn, giá cả nhìn chung trì trệ trong tuần này. Vào đầu tuần, giá có mức tăng nhẹ nhờ chi phí nguyên liệu hỗ trợ, nhưng đến giữa tuần, giá trúng thầu từ các nhà máy vật liệu từ tính lớn thấp hơn kỳ vọng, khiến một số nhà cung cấp kim loại hạ nhẹ giá chào. Giá kim loại terbi được nâng lên mức 7,68-7,7 triệu nhân dân tệ/tấn. Hoạt động thăm dò thị trường sôi động hơn trong tuần này, và khi giá nguyên liệu tăng lên, các nhà cung cấp cũng nâng giá chào tương ứng. Tuy nhiên, các giao dịch giá cao không thu hút được sự quan tâm, và tâm lý chờ đợi của phía hạ nguồn vẫn khá mạnh. Giá hợp kim gadolini-sắt giảm trở lại trong tuần này, chủ yếu do hoạt động thăm dò và mua sắm của phía hạ nguồn hạn chế, cùng với giá cả sản phẩm praseodym-neodym yếu. Tình hình giao dịch thực tế trên thị trường trì trệ, giá hiện được hạ xuống mức 190.000-195.000 nhân dân tệ/tấn.
Nam châm vĩnh cửu đất hiếm:
Hiện tại, phôi nam châm NdFeB N38 (Ce) chốt ở mức 213-223 nhân dân tệ/kg; phôi nam châm NdFeB 40M chốt ở mức 259~269 nhân dân tệ/kg; phôi nam châm NdFeB 40H chốt ở mức 263-273 nhân dân tệ/kg; phôi nam châm NdFeB 45SH (Ce) chốt ở mức 313~333 nhân dân tệ/kg. Về mặt định giá, giá nam châm NdFeB tạm thời ổn định trong tuần này, chủ yếu do giá nguyên liệu giữ ổn định, tạo nền tảng cho báo giá nam châm NdFeB ổn định. Về mặt giao dịch, ngành động cơ và người dùng cuối có nhu cầu bổ sung hàng thấp, chỉ duy trì mua sắm kịp thời. Việc dự trữ quy mô lớn khó có thể đẩy mạnh trong ngắn hạn, khiến khối lượng giao dịch thị trường ở mức khiêm tốn.
Phế liệu đất hiếm:
Tuần này, Pr-Nd tái chế từ phế liệu NdFeB đóng cửa ở mức 720-730 nhân dân tệ/kg; dysprosi tái chế từ phế liệu NdFeB đóng cửa ở mức 1.220-1.240 nhân dân tệ/kg; terbi tái chế từ phế liệu NdFeB đóng cửa ở mức 5.500-5.700 nhân dân tệ/kg.
Thị trường phế liệu nhìn chung ổn định trong tuần này, phần lớn được hỗ trợ bởi giá chào oxit tương đối vững. Trong tuần, giá oxit Pr-Nd ở mức ảm đạm, và giá mua vào từ các doanh nghiệp tái chế duy trì tương đối ổn định. Khi việc giám sát tuân thủ thuế được thắt chặt, các đơn vị tái chế phần lớn tạm dừng mua phế liệu chưa nộp thuế. Trong khi đó, các nhà cung cấp phế liệu đã nộp thuế không sẵn lòng bán với giá thấp. Tuy nhiên, với giá oxit Pr-Nd nhìn chung ảm đạm, các đơn vị tái chế đối mặt với lỗ từ chi phí mua hàng, và giá mua thực tế rơi vào bế tắc, với cuộc giằng co gay gắt giữa thượng nguồn và hạ nguồn.



