Cập nhật ngày 4 tháng 6:
Quặng đất hiếm:
Hôm nay, cacbonat đất hiếm được báo giá 56.500-56.900 NDT/tấn, giá monazit ổn định ở mức 4,1-4,3 NDT/tấn, quặng giàu yttri trung bình và europi được báo giá khoảng 230.000-232.000 NDT/tấn. Hiện tại, lượng quặng đất hiếm lưu thông trên thị trường vẫn kém, lượng thu mua từ các nhà máy phân tách thấp, dẫn đến hoạt động giao dịch trên thị trường trầm lắng. Giá giao dịch thực tế của quặng đất hiếm cũng tương đối ổn định, biến động không đáng kể.
Oxit đất hiếm:
Phía đất hiếm nhẹ, giá oxit lantan không biến động trong tuần, duy trì ổn định ở mức 5.200-5.800 NDT/tấn. Giá thị trường oxit xeri cũng tiếp tục giữ vững, ổn định ở mức 14.400-15.200 NDT/tấn trong tuần. Được thúc đẩy bởi hoạt động mua bù vị thế bán khống, giá kỳ hạn tăng, hỗ trợ nhẹ mức độ sẵn sàng bổ sung hàng tồn kho của hạ nguồn. Lượng hỏi hàng và thu mua oxit Pr-Nd tăng nhẹ so với kỳ trước, báo giá từ nhà cung cấp cũng phục hồi nhẹ. Tính đến hôm nay, giá oxit Pr-Nd dao động tăng lên 697.000-700.000 NDT/tấn. Phía đất hiếm trung-nặng, báo giá oxit dysprosi từ nhà cung cấp tăng nhanh, được thúc đẩy bởi các yếu tố tin tức kết hợp với hoạt động thu mua từ các nhà sản xuất lớn. Trong tuần, giá oxit dysprosi nhanh chóng phục hồi lên 1,32-1,34 triệu NDT/tấn. Thị trường oxit terbi cũng ghi nhận mức tăng đáng kể trong tuần, nguồn cung giá thấp thắt chặt nhanh chóng, giá tăng vọt lên 6,1-6,15 triệu NDT/tấn trong tuần. Giá oxit gadolini biến động tương đối nhỏ trong tuần, thượng nguồn và hạ nguồn giằng co trì trệ, giá oxit gadolini đi ngang ở mức 202.000-205.000 NDT/tấn. Giá oxit holmi tăng nhẹ theo thị trường, tuy nhiên hoạt động thu mua thực tế trên thị trường không đạt kỳ vọng, giá tăng nhẹ lên phạm vi 535.000-540.000 NDT/tấn trong tuần. Báo giá oxit erbi từ nhà cung cấp tương đối ổn định, tính đến hôm nay, giá oxit erbi giữ vững ở mức 430.000-440.000 NDT/tấn. Giá thị trường oxit yttri cũng tiếp tục duy trì ổn định trong tuần, giữ ở mức 58.000-60.000 NDT/tấn.
Kim loại đất hiếm:
Tuần này, giá kim loại cerium giảm, điều chỉnh về mức 33.000-34.000 NDT/tấn. Giá hợp kim Pr-Nd có xu hướng tăng tổng thể trong tuần này, điều chỉnh lên mức 845.000-855.000 NDT/tấn tính đến hôm nay. Đầu tuần, được thúc đẩy bởi giá oxit Pr-Nd tăng và hoạt động hỏi mua từ hạ nguồn gia tăng, các doanh nghiệp kim loại đã nâng báo giá. Tuy nhiên, giữa tuần, khi trọng tâm mua sắm hạ nguồn chuyển hướng, hoạt động hỏi mua trên thị trường trở nên trầm lắng, giá hỏi mua tương đối thấp, dẫn đến giá giảm nhẹ. Dù vậy, báo giá của các doanh nghiệp kim loại vẫn tương đối vững, mức giảm thực tế hạn chế. Về phía thị trường đất hiếm trung-nặng, hợp kim dysprosi-sắt đóng cửa ở mức 1,28-1,3 triệu NDT/tấn, giá tăng đáng kể trong tuần này, chủ yếu được hỗ trợ bởi chi phí nguyên liệu và hoạt động hỏi mua, thu mua từ hạ nguồn gia tăng. Nguồn cung giá thấp trên thị trường thắt chặt, báo giá của nhà cung cấp tiếp tục tăng. Giá kim loại terbi được nâng lên mức 7,55-7,6 triệu NDT/tấn. Hoạt động hỏi mua trên thị trường sôi động hơn trong tuần này, kết hợp với giá nguyên liệu tiếp tục tăng, các nhà cung cấp đã nâng báo giá tương ứng. Tuy nhiên, giao dịch thực tế ở mức giá cao còn hạn chế, tâm lý chờ đợi quan sát của hạ nguồn tương đối mạnh. Giá hợp kim gadolini-sắt tăng nhẹ trong tuần này, chủ yếu do giá sản phẩm Pr-Nd tăng, cộng thêm giá nguyên liệu tăng. Tuy nhiên, thái độ mua hàng của hạ nguồn vẫn tương đối thận trọng, hiệu suất giao dịch thực tế bình thường, mức tăng giá tổng thể hạn chế, hiện ổn định ở mức 195.000-200.000 NDT/tấn.
Nam châm vĩnh cửu đất hiếm:
Hiện tại, phôi NdFeB N38 (Ce) đóng cửa ở mức 213-223 NDT/kg; phôi NdFeB 40M đóng cửa ở mức 259~269 NDT/kg; phôi NdFeB 40H đóng cửa ở mức 263-273 NDT/kg; phôi NdFeB 45SH (Ce) đóng cửa ở mức 313~333 NDT/kg.
Về giá cả, giá NdFeB tăng nhẹ trong tuần này, chủ yếu do giá nguyên liệu có xu hướng tăng rõ rệt trong tuần, thúc đẩy giá vật liệu từ tính NdFeB tiếp tục tăng. Về giao dịch, mức độ sẵn sàng bổ sung hàng tồn kho của các nhà sản xuất động cơ và người dùng cuối tương đối thấp trong tuần này, chỉ duy trì mua sắm theo nhu cầu tức thời. Việc tích trữ khối lượng lớn khó có thể đẩy mạnh trong ngắn hạn, dẫn đến khối lượng giao dịch thị trường ở mức bình thường.
Phế liệu đất hiếm:
Tuần này, Pr-Nd tái chế từ phế liệu NdFeB đóng cửa ở mức 720-730 nhân dân tệ/kg; dysprosium tái chế từ phế liệu NdFeB đóng cửa ở mức 1.220-1.240 nhân dân tệ/kg; terbium tái chế từ phế liệu NdFeB đóng cửa ở mức 5.500-5.700 nhân dân tệ/kg.
Tuần này, giá thị trường phế liệu có xu hướng tăng tổng thể, chủ yếu chịu ảnh hưởng từ sự tăng giá oxit trên thị trường. Được thúc đẩy bởi sự tăng giá oxit Pr-Nd trong tuần, các doanh nghiệp tái chế đã nâng báo giá thu mua phế liệu tương ứng, và các nhà cung cấp phế liệu thể hiện mức độ sẵn sàng bán hàng tăng lên. Tuy nhiên, vấn đề chi phí thu mua dẫn đến thua lỗ đối với phế liệu vẫn tồn tại, dẫn đến sự phân hóa trong thái độ mua hàng giữa các doanh nghiệp tái chế: các doanh nghiệp hàng đầu duy trì thái độ mua hàng tương đối tích cực, trong khi các doanh nghiệp tái chế vừa và nhỏ áp dụng cách tiếp cận chờ đợi và quan sát nhiều hơn. Chịu ảnh hưởng từ sự tăng giá phế liệu, khối lượng giao dịch tổng thể trên thị trường tăng so với tuần trước. Tuy nhiên, khi cuối tuần đến gần, giá oxit Pr-Nd nhìn chung ở trạng thái trầm lắng, báo giá thu mua ký đơn hàng của các doanh nghiệp tái chế vẫn tương đối ổn định, và tâm lý chờ đợi quan sát trên thị trường khá mạnh.


