Theo số liệu hải quan, tổng lượng xuất khẩu lá nhôm của Trung Quốc (mã thuế quan 76071110, 76071120, 76071190, 76071900, 76072000) đạt 114.400 tấn trong tháng 4/2026, tăng 10,5% so với tháng trước nhưng giảm 6,2% so với cùng kỳ năm trước.

Phương thức thương mại: Trong tháng 4/2026, xuất khẩu lá nhôm của Trung Quốc theo hình thức gia công với nguyên liệu nhập khẩu đạt khoảng 19.200 tấn, chiếm khoảng 16,8%; xuất khẩu theo hình thức gia công với nguyên liệu do bên đặt hàng cung cấp đạt khoảng 7.500 tấn, chiếm 6,6%.

Theo quốc gia, năm thị trường xuất khẩu lá nhôm hàng đầu của Trung Quốc trong tháng 4/2026 là Thái Lan (11.000 tấn, 10,62%), Hàn Quốc (8.700 tấn, 8,4%), Mexico (8.100 tấn, 7,78%), Ấn Độ (7.000 tấn, 6,8%) và Indonesia (0,64 tấn, 6,2%), các quốc gia còn lại chiếm tổng cộng khoảng 60%. Thị trường Đông Nam Á duy trì đóng góp ổn định. Đáng chú ý, xuất khẩu sang Trung Đông có dấu hiệu phục hồi ban đầu: xuất khẩu sang UAE tăng từ 2.515 tấn trong tháng 3 lên 4.441 tấn trong tháng 4, và xuất khẩu sang Ả Rập Xê Út tăng từ 4.868 tấn lên 6.387 tấn. Tuy nhiên, theo khảo sát của SMM, lượng phục hồi chủ yếu được chuyển tuyến qua Biển Đỏ và chỉ chiếm một phần nhỏ so với mức bình thường. Hầu hết khách hàng chưa nối lại đặt hàng, và chuỗi thương mại Trung Đông vẫn còn xa mới trở lại bình thường.
Bước vào quý 2, xuất khẩu lá nhôm của Trung Quốc thể hiện chu kỳ bùng nổ điển hình do yếu tố địa chính trị: Một mặt, một số dây chuyền sản xuất lá nhôm siêu mỏng chuyển sang sản xuất lá nhôm pin dẫn đến nguồn cung lá nhôm bao bì truyền thống bị thu hẹp. Kết hợp với việc khách hàng nước ngoài đẩy nhanh xuất khẩu do lo ngại tình trạng phong tỏa eo biển Hormuz kéo dài, lịch sản xuất của doanh nghiệp đã được kéo dài đến cuối tháng 6 sang tháng 7, với phí gia công xuất khẩu túi tiêu chuẩn lá nhôm siêu mỏng tăng vọt lên 1.000-1.200 USD/tấn. Mặt khác, phí gia công cao bản thân đã làm chậm tốc độ đặt hàng bổ sung của khách hàng, và chênh lệch giá ngày càng lớn giữa thị trường trong nước và nước ngoài không mang lại tăng trưởng đơn hàng đáng kể (trên 20%), cho thấy tình trạng thiếu hụt thực tế ở nước ngoài còn hạn chế, với lượng tăng thêm chủ yếu do tích trữ phòng ngừa hơn là sự phục hồi toàn diện của nhu cầu tiêu dùng cuối cùng. Tính cả năm, lượng xuất khẩu lá nhôm lũy kế từ tháng 1 đến tháng 4 vẫn giảm 5,4% so với cùng kỳ. Để bù đắp phần sụt giảm trong năm 2025 (1,3406 triệu tấn), lượng xuất khẩu hàng tháng tiếp theo cần đạt 113.500 tấn. Trong kịch bản lạc quan, nếu tình trạng phong tỏa eo biển kéo dài sang quý III và làn sóng xuất khẩu gấp rút tiếp tục, xuất khẩu cả năm sẽ đạt 1,4 triệu tấn; trong kịch bản thận trọng, nếu lệnh phong tỏa được dỡ bỏ, dẫn đến phí premium tại thị trường nước ngoài thu hẹp và nhu cầu đã được kéo về trước, xuất khẩu cả năm chỉ đạt 1,3 triệu tấn. Thời gian kéo dài của xung đột địa chính trị và mức độ thiếu hụt thực tế tại thị trường nước ngoài là các biến số cốt lõi quyết định liệu xuất khẩu cả năm có thể "lấy lại phần đã mất" hay không.



