Nhóm Nghiên cứu Đồng Quốc tế (ICSG) đã công bố dữ liệu sơ bộ về cung cầu đồng toàn cầu tháng 3/2026 trong bản tin hàng tháng phát hành vào tháng 5/2026.
Dữ liệu sơ bộ cho thấy sản lượng khai thác đồng toàn cầu trong quý 1/2026 về cơ bản không thay đổi, với sản lượng tinh quặng đồng giảm 1,1%, được bù đắp bởi mức tăng 3,3% sản lượng chiết xuất dung môi-điện phân (SX-EW).
Mặc dù sản lượng khai thác toàn cầu được hưởng lợi từ sản lượng bổ sung nhờ việc nâng công suất các dự án tại nhiều quốc gia, nhưng sự sụt giảm đáng kể sản lượng tinh quặng đồng tại Chile, CHDC Congo và Indonesia đã bù trừ mức tăng trưởng toàn cầu.
Tại Indonesia, sản lượng tinh quặng đồng tại mỏ Grasberg giảm 42%, do sự cố bùn tràn nghiêm trọng xảy ra vào tháng 9 năm ngoái tiếp tục ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của mỏ.
Sản lượng khai thác của Chile giảm 5,8%, với mức tăng sản lượng tại các mỏ Collahuasi và Quebrada Blanca bị bù trừ bởi việc cắt giảm sản lượng tại các mỏ Spence, El Teniente, Escondida và Los Pelambres.
Sản lượng khai thác của CHDC Congo ước tính chỉ tăng 0,5%: sản lượng SX-EW tăng khoảng 10%, nhưng bị bù trừ một phần bởi mức giảm 36% sản lượng tinh quặng đồng do sản lượng giảm tại mỏ Kamoa (bị ảnh hưởng bởi sự kiện động đất năm 2025).
Tại Peru, sản lượng khai thác đồng tăng 3,3%, chủ yếu nhờ sản lượng tăng tại các mỏ Antamina, Las Bambas và Antapaccay, vượt trội hơn mức giảm sản lượng tại Southern Peru Copper, Quellaveco và Marcobre.
Sản lượng tinh quặng đồng của Mông Cổ ước tính tăng khoảng 36%, được hưởng lợi từ việc nâng công suất dự án ngầm Oyu Tolgoi.
Dữ liệu sơ bộ cho thấy sản lượng đồng cathode toàn cầu tăng khoảng 4,5% trong quý 1/2026, với sản lượng đồng nguyên sinh (điện phân và điện phân quặng) tăng 3,8% và sản lượng đồng thứ sinh (từ phế liệu) tăng 7,6%.
Trung Quốc và CHDC Congo, hiện chiếm khoảng 60% sản lượng toàn cầu, có tổng sản lượng ước tính tăng 9% (Trung Quốc 8,8%, CHDC Congo 10%). Nếu loại trừ hai quốc gia này, sản lượng đồng cathode toàn cầu giảm khoảng 1,4%.
Sản lượng đồng cathode của Chile giảm 11,7%, trong đó sản lượng đồng cathode (từ tinh quặng) giảm 24% do các hạn chế vận hành và bảo trì lò luyện, và sản lượng đồng điện phân giảm 5,7%.
Sản lượng tại châu Á (không bao gồm Trung Quốc) ước tính giảm 4%, chủ yếu do sản lượng giảm tại Nhật Bản, Indonesia và Philippines. Sản lượng của Ấn Độ ước tính tăng 25%, nhờ cải thiện tỷ lệ sử dụng công suất và việc nâng công suất của nhà máy luyện Adani.
Sản lượng đồng tinh luyện thứ cấp toàn cầu (từ phế liệu) tăng 7,6%, chủ yếu nhờ tăng trưởng tại Trung Quốc.
Dữ liệu sơ bộ cho thấy mức sử dụng đồng tinh luyện biểu kiến toàn cầu tăng 0,8% trong quý 1 năm 2026.
Mặc dù mức sử dụng toàn cầu không bao gồm Trung Quốc ước tính tăng 1,7%, nhu cầu biểu kiến của Trung Quốc (không bao gồm thay đổi tồn kho kho ngoại quan/chưa báo cáo) ước tính cơ bản không đổi, chịu ảnh hưởng bởi mức giảm 40% trong nhập khẩu ròng đồng cathode của Trung Quốc.
Trung Quốc hiện chiếm khoảng 58% tổng mức sử dụng đồng tinh luyện toàn cầu.
Cân bằng cung cầu đồng tinh luyện toàn cầu sơ bộ cho thấy dư cung 396.000 tấn trong quý 1 năm 2026.
Trong việc tổng hợp cân bằng thị trường toàn cầu, ICSG sử dụng phương pháp tính toán nhu cầu biểu kiến của Trung Quốc, không tính đến thay đổi tồn kho chưa báo cáo. Tuy nhiên, để hỗ trợ phân tích thị trường toàn cầu, một mục điều chỉnh đã được thêm vào các bảng đính kèm — "Cân bằng đồng tinh luyện toàn cầu điều chỉnh theo thay đổi tồn kho kho ngoại quan Trung Quốc" — điều chỉnh cân bằng đồng tinh luyện toàn cầu dựa trên ước tính thay đổi tồn kho kho ngoại quan trung bình từ hai công ty tư vấn thị trường đồng Trung Quốc.
Trong quý 1 năm 2026, cân bằng đồng tinh luyện toàn cầu dựa trên mức sử dụng biểu kiến của Trung Quốc (không bao gồm thay đổi tồn kho kho ngoại quan/chưa báo cáo) cho thấy dư cung sơ bộ khoảng 396.000 tấn, so với dư cung khoảng 135.000 tấn trong cùng kỳ năm 2025. Cân bằng đồng tinh luyện toàn cầu điều chỉnh theo ước tính thay đổi tồn kho kho ngoại quan Trung Quốc cho thấy thị trường dư cung khoảng 386.000 tấn.
Giá đồng và tồn kho:
Dựa trên ước tính trung bình từ hai công ty tư vấn độc lập, tồn kho đồng tại kho ngoại quan Trung Quốc ước tính giảm khoảng 10.000 tấn so với mức cuối năm 2025 trong ba tháng đầu năm 2026.
Tính đến cuối tháng 4/2026, tồn kho đồng tại các sàn giao dịch kim loại lớn (LME, COMEX, SHFE) đạt tổng cộng 1.148.760 tấn, mức cao nhất kể từ tháng 1/2003. Tồn kho tăng 404.648 tấn, tương đương 55%, so với cuối tháng 12/2025, trong đó LME tăng 253.350 tấn, Sàn Giao dịch Hàng hóa Tương lai Thượng Hải tăng 46.683 tấn và COMEX tăng 104.615 tấn.
Giá đồng giao ngay bình quân trên LME trong tháng 4 là 12.891,38 USD/tấn, tăng 3% so với giá bình quân tháng 3 là 12.498,98 USD/tấn. Mức giá đồng cao nhất và thấp nhất năm 2026 lần lượt là 14.097 USD/tấn (ngày 13/5) và 11.826 USD/tấn (ngày 19/3), với giá bình quân từ đầu năm đến nay là 12.947,22 USD/tấn, tăng 30% so với giá bình quân năm 2025.
Xu hướng cung cầu đồng tinh luyện toàn cầu

Ghi chú:
1/ Chỉ mức tiêu thụ biểu kiến
2/ Cân bằng đồng tinh luyện = sản lượng - tiêu thụ
3/ Số liệu cân bằng đã điều chỉnh theo mùa
4/ Cân bằng đồng tinh luyện toàn cầu được điều chỉnh theo ước tính thay đổi tồn kho tại kho ngoại quan Trung Quốc
(Wenhua Composite)



