Hôm nay, Tổng cục Hải quan đã công bố dữ liệu xuất nhập khẩu tháng 4/2026. Dữ liệu hải quan cho thấy:
Nhập khẩu hợp kim nhôm chưa gia công trong tháng 4/2026 đạt 73.500 tấn, giảm 15,4% so với cùng kỳ năm trước và giảm 12,9% so với tháng trước. Lũy kế nhập khẩu từ tháng 1 đến tháng 4/2026 đạt 313.900 tấn, giảm 14,6% so với cùng kỳ năm trước.
Xuất khẩu hợp kim nhôm chưa gia công trong tháng 4/2026 đạt 46.300 tấn, mức xuất khẩu cao nhất theo tháng kể từ tháng 7/2022, tăng vọt 179,7% so với cùng kỳ năm trước và tăng 68,9% so với tháng trước. Lũy kế xuất khẩu từ tháng 1 đến tháng 4/2026 đạt 111.200 tấn, tăng 58,1% so với cùng kỳ năm trước.

Về cơ cấu nguồn nhập khẩu, mức độ tập trung nguồn nhập khẩu hợp kim nhôm chưa gia công của Trung Quốc vẫn ở mức cao trong tháng 4/2026, với năm nguồn hàng đầu chiếm khoảng 77% tổng cộng. Trong đó, Malaysia đứng đầu với 22.600 tấn, thị phần phục hồi lên 31%; Thái Lan và Nga đứng thứ hai và thứ ba với lần lượt 12.700 tấn và 11.800 tấn, trong khi thị phần của Nga giảm nhẹ xuống còn 16%; Việt Nam và Mông Cổ đứng thứ tư và thứ năm với lần lượt 8.300 tấn và 1.600 tấn. So với tháng 3, tổng nhập khẩu giảm 10.900 tấn, với mức giảm chủ yếu từ Thái Lan và Nga, trong khi Malaysia và Việt Nam tăng nhẹ.
Về phương thức thương mại, gia công nguyên liệu cung ứng đứng đầu với 21.300 tấn (chiếm 46%), tiếp theo là Thương mại Trung chuyển qua Khu vực Giám sát Đặc biệt của Hải quan và gia công nguyên liệu nhập khẩu đứng thứ hai và thứ ba, chiếm lần lượt 21% và 20%. Đáng chú ý, xuất khẩu theo Thương mại Thông thường đạt 6.066 tấn, với thị phần nhảy vọt lên 13%, tăng đáng kể so với mức dưới 1% trước đây. Xét đến mức thuế xuất khẩu 15%, cơ cấu xuất khẩu hiện tại vẫn chủ yếu là thương mại gia công (gần 70%), nhưng được thúc đẩy bởi khoảng trống nguồn cung ở nước ngoài do xung đột địa chính trị Trung Đông gây ra, xuất khẩu theo Thương mại Thông thường đã đạt mức tăng đáng kể.
Về cơ cấu điểm đến, Nhật Bản vẫn là điểm đến xuất khẩu hàng đầu, với xuất khẩu trong tháng 4 đạt 22.800 tấn, chiếm tới 49% và gần một nửa tổng lượng, với gia công nguyên liệu cung ứng là phương thức xuất khẩu chính. Thái Lan, Maroc, Hàn Quốc, Ấn Độ và Brazil tạo thành nhóm thứ hai, với thị phần từng nước chủ yếu nằm trong khoảng 5%-8%, cho thấy sự phân bổ thị trường tương đối phân tán. Trong đó, thị trường Đông Nam Á và châu Á chiếm tỷ trọng cao hơn, phản ánh xu hướng dịch chuyển sản xuất trong khu vực và nhu cầu đúc khuôn ngoài Trung Quốc ngày càng tăng, tạo hỗ trợ quan trọng cho xuất khẩu hợp kim nhôm của Trung Quốc.
Nhìn chung, trong tháng 4/2026, nhập khẩu hợp kim nhôm thô của Trung Quốc tiếp tục giảm, trong khi xuất khẩu hoạt động mạnh mẽ, đạt mức cao kỷ lục trong một tháng. Về phía nhập khẩu, sau tháng 3, căng thẳng địa chính trị ở Trung Đông đẩy giá nhôm LME tăng vọt, cộng thêm gián đoạn logistics, khiến giá ADC12 ngoài Trung Quốc tăng cao, biên lợi nhuận nhập khẩu thu hẹp nhanh chóng và chuyển sang thua lỗ. Trong tháng 4, thua lỗ tiếp tục mở rộng dưới áp lực kép từ giá cao ngoài Trung Quốc và giá trong nước biến động giảm yếu. Hiện tại, giá ADC12 ngoài Trung Quốc được báo ở mức 3.340-3.420 USD/tấn, mức lỗ nhập khẩu mỗi tấn vượt 3.000 nhân dân tệ, và nhập khẩu tháng 5 dự kiến tiếp tục thu hẹp. Về phía xuất khẩu, khoảng trống nguồn cung ngoài Trung Quốc do xung đột địa chính trị gây ra đã giải phóng tiềm năng xuất khẩu hợp kim nhôm, xuất khẩu tháng 5 dự kiến duy trì ở mức cao. Tính bền vững của xuất khẩu trong tương lai sẽ chủ yếu phụ thuộc vào tốc độ phục hồi chuỗi cung ứng ở Trung Đông và tiềm năng tăng trưởng dài hạn của thị trường đúc khuôn tại Đông Nam Á.


![Xuất khẩu lũy kế tăng 15,95% so với cùng kỳ, cơ cấu khu vực xuất khẩu anốt nung tiếp tục được tối ưu hóa [Phân tích SMM]](https://imgqn.smm.cn/usercenter/GEsWk20251217171650.jpg)

