Theo số liệu của NBS, từ tháng 1 đến tháng 4, giá trị gia tăng của các doanh nghiệp công nghiệp có quy mô trên mức chỉ định tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước theo giá trị thực (tất cả tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng đều là tốc độ tăng trưởng thực sau khi loại trừ yếu tố giá). Trong tháng 4, giá trị gia tăng của các doanh nghiệp công nghiệp có quy mô trên mức chỉ định tăng 4,1% so với cùng kỳ. So với tháng trước, giá trị gia tăng của các doanh nghiệp công nghiệp có quy mô trên mức chỉ định trong tháng 4 tăng 0,05%.

Theo ba lĩnh vực chính, trong tháng 4, giá trị gia tăng ngành khai khoáng tăng 3,8% so với cùng kỳ, ngành chế biến chế tạo tăng 4,0%, ngành sản xuất và cung ứng điện, nhiệt, khí đốt và nước tăng 5,3%.
Theo loại hình kinh tế, trong tháng 4, giá trị gia tăng của doanh nghiệp nhà nước nắm giữ cổ phần tăng 3,0% so với cùng kỳ; doanh nghiệp cổ phần tăng 4,2%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và vốn đầu tư từ Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan tăng 4,1%; doanh nghiệp tư nhân tăng 2,8%.
Theo ngành, trong tháng 4, 29 trong 41 ngành công nghiệp chính duy trì tăng trưởng giá trị gia tăng so với cùng kỳ. Trong đó, khai thác và rửa than tăng 3,8%, khai thác dầu mỏ và khí tự nhiên tăng 4,6%, chế biến nông sản và thực phẩm phụ tăng 3,5%, sản xuất rượu, đồ uống và trà tinh chế giảm 1,4%, dệt may tăng 2,3%, sản xuất nguyên liệu hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 5,3%, sản xuất sản phẩm khoáng phi kim loại giảm 6,5%, luyện và cán kim loại đen tăng 1,0%, luyện và cán kim loại màu giảm 1,0%, sản xuất thiết bị thông dụng tăng 5,5%, sản xuất thiết bị chuyên dụng tăng 6,2%, sản xuất ô tô tăng 9,2%, sản xuất thiết bị vận tải đường sắt, đóng tàu, hàng không vũ trụ và phương tiện vận tải khác tăng 8,2%, sản xuất máy móc và thiết bị điện tăng 3,1%, sản xuất máy tính, thiết bị truyền thông và thiết bị điện tử khác tăng 15,6%, sản xuất và cung ứng điện, nhiệt tăng 6,2%.
Theo sản phẩm, trong tháng 4, 321 trong 626 sản phẩm của các doanh nghiệp công nghiệp có quy mô trên mức chỉ định ghi nhận tăng trưởng sản lượng so với cùng kỳ. Trong đó, sản phẩm thép (122,63 triệu tấn, giảm 1,7% so với cùng kỳ), xi măng (145,71 triệu tấn, giảm 10,8%), mười loại kim loại màu (6,94 triệu tấn, tăng 2,8%), ethylene (3,15 triệu tấn, giảm 4,1%), ô tô (2,564 triệu chiếc, giảm 2,6%), trong đó xe năng lượng mới (1,296 triệu chiếc, tăng 3,8%); sản lượng phát điện (744 tỷ kWh, tăng 2,6%); và sản lượng chế biến dầu thô (54,65 triệu tấn, giảm 5,8%).
Trong tháng 4, tỷ lệ tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp công nghiệp có quy mô trên mức quy định đạt 97,1%, giảm 0,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; giá trị giao hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp công nghiệp có quy mô trên mức quy định đạt 1.373,3 tỷ nhân dân tệ, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước theo giá trị danh nghĩa.










![Đồng BC đóng cửa giảm trong phiên giao dịch biến động, chênh lệch giá giữa thị trường trong nước và quốc tế tiếp tục mở rộng theo hướng nghịch đảo [Bình luận đồng BC của SMM]](https://imgqn.smm.cn/usercenter/JnFuh20251217171711.jpg)
![Giá nhôm tiếp tục giảm, tâm lý giao hàng tiếp tục suy yếu [SMM Nhận định giữa phiên nhôm giao ngay]](https://imgqn.smm.cn/usercenter/zsKTq20251217171652.jpg)
