Cập nhật ngày 14 tháng 5:
Quặng đất hiếm:
Hôm nay, giá cacbonat đất hiếm dao động trong khoảng 60.300-62.200 NDT/tấn, giá quặng monazit được điều chỉnh về mức 4,2-4,6 NDT/tấn, và giá quặng giàu yttri trung bình, europi dao động quanh mức 243.000-245.000 NDT/tấn. Hiện tại, tốc độ lưu thông quặng đất hiếm trên thị trường vẫn ở mức tương đối thấp. Nhìn chung, các nhà máy tách chiết thể hiện nhu cầu mua quặng đất hiếm yếu, khiến giao dịch thị trường trầm lắng và giá quặng đất hiếm thiếu động lực tăng.
Oxit đất hiếm:
Giá oxit lantan tiếp tục giữ ổn định trong tuần này, duy trì ở mức 5.000-5.800 NDT/tấn. Thị trường oxit xeri ghi nhận mức tăng giá nhẹ gần đây, với giá được điều chỉnh lên 14.400-15.200 NDT/tấn trong tuần. Thị trường oxit Pr-Nd nhìn chung ảm đạm trong tuần này. Chịu ảnh hưởng từ biến động giá kỳ hạn, các thương nhân bán hàng ở mức giá thấp. Trong khi đó, tâm lý "mua vội khi giá tăng liên tục, giữ hàng khi giá giảm" làm gia tăng tâm lý chờ đợi quan sát ở các nhà máy kim loại hạ nguồn, với nhu cầu mua yếu và bầu không khí giao dịch thị trường cực kỳ trầm lắng. Tính đến hôm nay, giá oxit Pr-Nd giảm xuống còn 745.000-750.000 NDT/tấn. Về phía đất hiếm trung-nặng, thị trường oxit dysprosi chịu cảnh niềm tin suy giảm nghiêm trọng, nhu cầu từ các nhà máy kim loại hạ nguồn vẫn trì trệ. Một số nhà cung cấp hạ giá chào bán, và giá oxit dysprosi tiếp tục giảm xuống 1,31-1,34 triệu NDT/tấn trong tuần này. Giao dịch thị trường oxit terbi vẫn trầm lắng. Giá chào từ nhà máy tương đối vững, nhưng bên mua tích cực ép giá khi hỏi mua, với giá được điều chỉnh nhẹ về mức 6,08-6,12 triệu NDT/tấn trong tuần. Giá oxit gadolini giảm theo xu hướng thị trường. Nhu cầu hỏi mua từ nhà máy kim loại trầm lắng, một số thương nhân chủ động bán hàng ở mức giá thấp, với giá tiếp tục giảm xuống 257.000-233.000 NDT/tấn trong tuần. Giá oxit holmi tiếp tục giữ ổn định, nhưng giao dịch thực tế trên thị trường vẫn kém, với giá tạm thời ổn định trong khoảng 545.000-550.000 NDT/tấn trong tuần này. Các nhà cung cấp erbium oxide đã tăng báo giá đáng kể trên toàn thị trường, nguồn hàng giá thấp thắt chặt nhanh chóng. Tính đến hôm nay, giá erbium oxide được nâng lên 430.000-440.000 NDT/tấn. Giá thị trường yttrium oxide tiếp tục giảm nhẹ trong tuần này, với mức độ quan tâm hỏi mua của người mua giảm, giá hạ xuống 60.000-63.000 NDT/tấn trong tuần.
Kim loại đất hiếm:
Tuần này, giá kim loại cerium vận hành ổn định, duy trì ở mức 35.000-35.500 NDT/tấn. Giá hợp kim Pr-Nd có xu hướng giảm tổng thể trong tuần, giảm xuống 905.000-915.000 NDT/tấn. Đầu tuần, chịu ảnh hưởng từ tin tức liên quan đến chuyến thăm Trung Quốc của Trump và đàm phán thương mại Trung-Mỹ, giá Pr-Nd tạm dừng xu hướng giảm. Tuy nhiên, giá Pr-Nd oxide sau đó tiếp tục giảm, trong khi hoạt động hỏi mua và thu mua hạ nguồn giảm. Dưới tác động kép này, một số nhà cung cấp kim loại đã hạ báo giá. Khi cuối tuần đến gần, báo giá neodymium oxide giao ngay phục hồi. Được hỗ trợ bởi chi phí nguyên liệu, giá hợp kim Pr-Nd cũng ngừng giảm, hoạt động mua hàng hạ nguồn dần phục hồi, và khối lượng giao dịch thực tế trên thị trường tăng lên. Thị trường đất hiếm trung-nặng, hợp kim dysprosium-sắt đóng cửa ở mức 1,29-1,31 triệu NDT/tấn, giá duy trì xu hướng giảm trong tuần, chủ yếu do hoạt động hỏi mua và thu mua hạ nguồn tiếp tục trì trệ, phần lớn là nỗ lực ép giá thấp hơn, khiến nhà cung cấp liên tục hạ báo giá. Giá kim loại terbium giảm xuống 7,5-7,55 triệu NDT/tấn. Hoạt động hỏi mua trên thị trường vẫn trì trệ trong tuần, cộng thêm giá nguyên liệu điều chỉnh giảm. Mặc dù nhà cung cấp hạ báo giá, giao dịch thực tế không cải thiện. Hợp kim gadolinium-sắt tuần này giảm trước rồi tăng sau, xu hướng tổng thể vẫn giảm, chủ yếu do giá nguyên liệu tiếp tục điều chỉnh giảm kết hợp với tác động từ việc giảm giá sản phẩm Pr-Nd. Doanh nghiệp kim loại hạ báo giá, và mặc dù giá được nâng lên gần cuối tuần, hoạt động hỏi mua hạ nguồn vẫn hạn chế, giá gadolinium-sắt điều chỉnh về mức 223.000-237.000 NDT/tấn trong tuần.
Nam châm vĩnh cửu đất hiếm:
Hiện tại, phôi NdFeB N38 (Ce) đóng cửa ở mức 236-246 NDT/kg; phôi NdFeB 40M có giá 282-292 NDT/kg; phôi NdFeB 40H có giá 286-296 NDT/kg; phôi NdFeB 45SH (Ce) có giá 336-356 NDT/kg.
Về giá cả, giá NdFeB tuần này giảm đáng kể, chủ yếu do giá oxit Pr-Nd và hợp kim - nguyên liệu thô chính của NdFeB - có xu hướng giảm trong tuần, kéo giá vật liệu từ tính NdFeB tiếp tục đi xuống. Về giao dịch, hoạt động giao dịch tuần này yếu. Khi giá nguyên liệu thô tiếp tục giảm, người dùng cuối thể hiện tâm lý chờ đợi quan sát mạnh, cộng thêm lượng tồn kho hạ nguồn hiện có, giao dịch thực tế trên thị trường trì trệ.
Phế liệu đất hiếm:
Tuần này, Pr-Nd tái chế từ phế liệu NdFeB có giá 745-755 nhân dân tệ/kg; dysprosi tái chế từ phế liệu NdFeB có giá 1.260-1.280 nhân dân tệ/kg; terbi tái chế từ phế liệu NdFeB có giá 5.800-6.000 nhân dân tệ/kg.
Tuần này, thị trường phế liệu tiếp tục xu hướng giảm tổng thể, chủ yếu do giá oxit tiếp tục giảm. Các doanh nghiệp tái chế hạ báo giá ký đơn hàng xuất và thu mua, nhưng khi cuối tuần đến gần, với giá oxit Pr-Nd phục hồi, giá phế liệu Pr-Nd đã phản đàn nhẹ. Đầu tuần, báo giá oxit Pr-Nd giao ngay giảm đáng kể do ảnh hưởng từ giá hợp đồng tương lai Zhonglian Jin, khiến giá phế liệu giảm theo. Tuy nhiên, nhà cung cấp phế liệu thể hiện ý muốn bán giá thấp yếu, giao dịch thị trường khá trì trệ. Trong khi đó, khi giá oxit dysprosi tiếp tục giảm, báo giá ký đơn hàng và thu mua phế liệu dysprosi liên tục được hạ xuống.



