Dữ liệu từ Tổng cục Thống kê Quốc gia (NBS) cho thấy trong tháng 4/2026, giá tiêu dùng cả nước tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, khu vực thành thị tăng 1,2% và khu vực nông thôn tăng 1,0%; giá thực phẩm giảm 1,6%, trong khi giá phi thực phẩm tăng 1,8%; giá hàng tiêu dùng tăng 1,4% và giá dịch vụ tăng 0,9%. Bình quân từ tháng 1 đến tháng 4, giá tiêu dùng cả nước tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng 4, giá tiêu dùng cả nước tăng 0,3% so với tháng trước. Cụ thể, khu vực thành thị tăng 0,3% và khu vực nông thôn tăng 0,1%; giá thực phẩm giảm 1,6%, trong khi giá phi thực phẩm tăng 0,7%; giá hàng tiêu dùng tăng 0,1% và giá dịch vụ tăng 0,5%. Trong tháng 4/2026, giá xuất xưởng của nhà sản xuất công nghiệp tăng 2,8% so với cùng kỳ và 1,7% so với tháng trước. Giá mua vào của nhà sản xuất công nghiệp tăng 3,5% so với cùng kỳ và 2,1% so với tháng trước. Bình quân từ tháng 1 đến tháng 4, giá xuất xưởng của nhà sản xuất công nghiệp tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước và giá mua vào của nhà sản xuất công nghiệp tăng 0,5%.
Giá tiêu dùng tháng 4/2026 tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước
Trong tháng 4/2026, giá tiêu dùng cả nước tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, khu vực thành thị tăng 1,2% và khu vực nông thôn tăng 1,0%; giá thực phẩm giảm 1,6%, trong khi giá phi thực phẩm tăng 1,8%; giá hàng tiêu dùng tăng 1,4% và giá dịch vụ tăng 0,9%. Bình quân từ tháng 1 đến tháng 4, giá tiêu dùng cả nước tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước.
Trong tháng 4, giá tiêu dùng cả nước tăng 0,3% so với tháng trước. Cụ thể, khu vực thành thị tăng 0,3% và khu vực nông thôn tăng 0,1%; giá thực phẩm giảm 1,6%, trong khi giá phi thực phẩm tăng 0,7%; giá hàng tiêu dùng tăng 0,1% và giá dịch vụ tăng 0,5%.

I. Biến động giá so với cùng kỳ năm trước của các nhóm hàng hóa và dịch vụ
Trong tháng 4, giá thực phẩm, thuốc lá, rượu bia và ăn uống ngoài giảm 0,8% so với cùng kỳ, kéo CPI giảm khoảng 0,24 điểm phần trăm. Trong nhóm thực phẩm, giá thịt gia súc giảm 6,7%, kéo CPI giảm khoảng 0,28 điểm phần trăm, trong đó giá thịt lợn giảm 15,2%, kéo CPI giảm khoảng 0,29 điểm phần trăm; giá hoa quả tươi giảm 1,0%, kéo CPI giảm khoảng 0,02 điểm phần trăm; giá rau tươi giảm 0,5%, kéo CPI giảm khoảng 0,01 điểm phần trăm; giá thủy sản tăng 1,3%, đẩy CPI tăng khoảng 0,02 điểm phần trăm.
Trong bảy nhóm hàng hóa chính còn lại, sáu nhóm tăng và một nhóm giảm so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, giá các mặt hàng và dịch vụ khác, giao thông và thông tin liên lạc, y tế lần lượt tăng 11,0%, 4,6% và 2,2%; giá quần áo, đồ dùng và dịch vụ gia đình, giáo dục văn hóa và giải trí lần lượt tăng 1,5%, 1,4% và 1,3%; giá nhà ở giảm 0,2%.

II. Biến động giá theo tháng của các nhóm hàng hóa và dịch vụ
Trong tháng 4, giá thực phẩm, thuốc lá, rượu bia và ăn uống ngoài giảm 1,0% so với tháng trước, kéo CPI giảm khoảng 0,28 điểm phần trăm. Trong nhóm thực phẩm, giá rau tươi giảm 6,4%, kéo CPI giảm khoảng 0,11 điểm phần trăm; giá thịt gia súc giảm 2,7%, kéo CPI giảm khoảng 0,11 điểm phần trăm, trong đó giá thịt lợn giảm 5,7%, kéo CPI giảm khoảng 0,10 điểm phần trăm; giá hoa quả tươi giảm 2,3%, kéo CPI giảm khoảng 0,05 điểm phần trăm; giá thủy sản giảm 1,2%, kéo CPI giảm khoảng 0,02 điểm phần trăm; giá trứng tăng 2,7%, đẩy CPI tăng khoảng 0,01 điểm phần trăm.
Trong bảy nhóm hàng hóa chính còn lại, so với tháng trước có ba nhóm tăng giá, một nhóm giữ nguyên và ba nhóm giảm giá. Cụ thể, giá giao thông và thông tin liên lạc, giáo dục văn hóa và giải trí, y tế lần lượt tăng 3,5%, 0,5% và 0,3%; giá đồ dùng và dịch vụ gia đình không đổi; giá các mặt hàng và dịch vụ khác, quần áo, nhà ở lần lượt giảm 0,5%, 0,3% và 0,1%.


Giá xuất xưởng của nhà sản xuất công nghiệp tháng 4/2026 tăng 2,8% so với cùng kỳ và tăng 1,7% so với tháng trước
Tháng 4/2026, giá xuất xưởng của nhà sản xuất công nghiệp cả nước tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước và tăng 1,7% so với tháng trước. Giá mua vào của nhà sản xuất công nghiệp tăng 3,5% so với cùng kỳ và tăng 2,1% so với tháng trước. Bình quân tháng 1–4, giá xuất xưởng của nhà sản xuất công nghiệp tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước, giá mua vào của nhà sản xuất công nghiệp tăng 0,5%.


I. Biến động giá nhà sản xuất công nghiệp so với cùng kỳ năm trước
Trong tháng 4, trong giá xuất xưởng của nhà sản xuất công nghiệp, giá tư liệu sản xuất tăng 3,8%, đẩy mức giá xuất xưởng chung của nhà sản xuất công nghiệp tăng khoảng 2,98 điểm phần trăm. Cụ thể, giá ngành khai khoáng tăng 10,6%, ngành nguyên vật liệu tăng 7,1%, ngành chế biến tăng 1,5%. Giá hàng tiêu dùng giảm 1,0%, kéo mức giá xuất xưởng sản phẩm công nghiệp giảm khoảng 0,23 điểm phần trăm. Cụ thể, giá thực phẩm giảm 1,9%, giá quần áo và hàng tiêu dùng hàng ngày đều giảm 1,1%, giá hàng tiêu dùng lâu bền giảm 0,3%.


Trong giá mua của nhà sản xuất công nghiệp, giá vật liệu kim loại màu và dây điện tăng 21,3%, nguyên liệu hóa chất tăng 5,9%, nhiên liệu và năng lượng tăng 4,4%, nguyên liệu dệt tăng 1,0%; giá vật liệu xây dựng và khoáng sản phi kim loại giảm 5,1%, phụ phẩm nông nghiệp giảm 2,1%, vật liệu kim loại đen giảm 0,9%.
II. Biến động so với tháng trước của giá sản xuất công nghiệp
Tháng 4, trong giá xuất xưởng sản phẩm công nghiệp, giá tư liệu sản xuất tăng 2,1%, đóng góp khoảng 1,68 điểm phần trăm vào mức tăng chung của giá xuất xưởng sản phẩm công nghiệp. Cụ thể, giá ngành khai khoáng tăng 5,7%, ngành nguyên vật liệu tăng 4,9%, ngành chế biến tăng 0,4%. Giá hàng tiêu dùng giảm 0,1%, kéo mức giá xuất xưởng sản phẩm công nghiệp giảm khoảng 0,02 điểm phần trăm. Cụ thể, giá thực phẩm giảm 0,4%, giá quần áo giảm 0,1%, giá hàng tiêu dùng hàng ngày và hàng tiêu dùng lâu bền đều tăng 0,1%.
Trong giá mua của nhà sản xuất công nghiệp, giá nguyên liệu hóa chất tăng 7,3%, nhiên liệu và năng lượng tăng 6,3%, nguyên liệu dệt tăng 1,3%, kim loại đen tăng 0,6%, phụ phẩm nông nghiệp tăng 0,3%; giá vật liệu xây dựng và khoáng sản phi kim loại giảm 1,0%, kim loại màu và dây điện giảm 0,1%.

Tháng 4/2026: CPI phục hồi nhẹ, mức tăng PPI mở rộng
— Giải đọc số liệu CPI và PPI tháng 4/2026 của Đổng Lệ Quyên, Trưởng thống kê Vụ Đô thị, Tổng cục Thống kê Quốc gia (NBS)
Tháng 4, chịu ảnh hưởng từ biến động giá dầu thô quốc tế và nhu cầu đi lại tăng trong kỳ nghỉ lễ, Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 0,3% so với tháng trước và tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước. CPI lõi, loại trừ giá thực phẩm và năng lượng, tăng 1,2% so với cùng kỳ, duy trì đà phục hồi nhẹ. Chịu ảnh hưởng từ giá hàng hóa quốc tế tăng nhanh, nhu cầu ở một số ngành công nghiệp trong nước gia tăng và trật tự cạnh tranh thị trường liên tục được tối ưu hóa, Chỉ số Giá sản xuất (PPI) tăng 1,7% so với tháng trước và 2,8% so với cùng kỳ năm trước, với tốc độ tăng trưởng mở rộng so với tháng trước.
I. CPI phục hồi nhẹ
So với tháng trước, CPI toàn quốc chuyển từ giảm 0,7% trong tháng trước sang tăng 0,3%, cao hơn 0,4 điểm phần trăm so với mức theo mùa, chủ yếu do giá năng lượng và dịch vụ du lịch tăng. Chịu ảnh hưởng từ biến động giá dầu thô quốc tế, giá năng lượng của Trung Quốc tăng 5,7%, mức tăng mở rộng 0,9 điểm phần trăm so với tháng trước, đóng góp khoảng 0,39 điểm phần trăm vào mức tăng CPI so với tháng trước. Trong đó, giá xăng tăng 12,6%. Giá dịch vụ chuyển từ giảm 1,1% trong tháng trước sang tăng 0,5%, cao hơn 0,2 điểm phần trăm so với mức theo mùa, đóng góp khoảng 0,22 điểm phần trăm vào mức tăng CPI so với tháng trước. Cụ thể, nhờ kỳ nghỉ lễ Thanh Minh, kỳ nghỉ lễ Quốc tế Lao động và kỳ nghỉ xuân ở một số khu vực, nhu cầu dịch vụ du lịch tăng đáng kể, với giá vé máy bay, thuê xe, phí dịch vụ lữ hành và lưu trú khách sạn lần lượt tăng 29,2%, 8,6%, 4,5% và 3,9%, đều vượt mức theo mùa. Bốn hạng mục này cộng lại đóng góp khoảng 0,17 điểm phần trăm vào mức tăng CPI so với tháng trước; giá dịch vụ y tế tăng 0,6%, đóng góp khoảng 0,04 điểm phần trăm vào mức tăng CPI so với tháng trước. Giá thực phẩm giảm 1,6%, mức giảm thu hẹp 1,1 điểm phần trăm so với tháng trước, kéo CPI giảm khoảng 0,28 điểm phần trăm so với tháng trước. Trong nhóm thực phẩm, khi thời tiết ấm lên, lượng lớn rau tươi và trái cây tươi được đưa ra thị trường, với giá lần lượt giảm 6,4% và 2,3%; nguồn cung thịt lợn và thủy sản dồi dào, với giá lần lượt giảm 5,7% và 1,2%. Bốn hạng mục này cộng lại kéo CPI giảm khoảng 0,28 điểm phần trăm so với tháng trước. Giá trứng tăng 3,4%, đóng góp khoảng 0,01 điểm phần trăm vào mức tăng CPI so với tháng trước. Loại trừ năng lượng, giá hàng tiêu dùng công nghiệp giảm 0,2%, nhìn chung ổn định.
So với cùng kỳ năm trước, CPI toàn quốc tăng 1,2%, mức tăng mở rộng 0,2 điểm phần trăm so với tháng trước. Giá hàng tiêu dùng công nghiệp tháng này tăng 3,5%, mức tăng mở rộng 1,3 điểm phần trăm so với tháng trước, đóng góp khoảng 1,06 điểm phần trăm vào tăng trưởng CPI so với cùng kỳ. Trong hàng tiêu dùng công nghiệp, chịu ảnh hưởng từ biến động giá hàng hóa quốc tế, giá xăng và vàng trang sức tại Trung Quốc có biến động đáng kể. Cụ thể, mức tăng giá xăng mở rộng lên 19,3%, đóng góp khoảng 0,56 điểm phần trăm vào tăng trưởng CPI so với cùng kỳ; mức tăng giá vàng trang sức giảm về 46,9%, đóng góp khoảng 0,2 điểm phần trăm vào tăng trưởng CPI so với cùng kỳ; giá đồ gia dụng và quần áo lần lượt tăng 2,6% và 1,6%, cùng đóng góp khoảng 0,11 điểm phần trăm vào tăng trưởng CPI so với cùng kỳ. Giá dịch vụ tăng 0,9%, mức tăng mở rộng 0,1 điểm phần trăm so với tháng trước, đóng góp khoảng 0,44 điểm phần trăm vào tăng trưởng CPI so với cùng kỳ. Trong lĩnh vực dịch vụ, giá các hạng mục dịch vụ công cơ bản nhìn chung ổn định, giá dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục lần lượt tăng 3,4% và 0,5%, cùng đóng góp khoảng 0,25 điểm phần trăm vào tăng trưởng CPI so với cùng kỳ; mức tăng giá dịch vụ du lịch mở rộng phần nào, tháng này tăng 3,7%, đóng góp khoảng 0,13 điểm phần trăm vào tăng trưởng CPI so với cùng kỳ; giá dịch vụ lao động tăng nhẹ, giá dịch vụ thú cưng, ăn uống ngoài, giúp việc gia đình và sửa chữa bảo dưỡng xe lần lượt tăng từ 1,1% đến 1,4%, cùng đóng góp khoảng 0,1 điểm phần trăm vào tăng trưởng CPI so với cùng kỳ. Giá thực phẩm chuyển từ mức tăng 0,3% của tháng trước sang giảm 1,6%. Trong nhóm thực phẩm, giá thịt lợn giảm 15,2%, mức giảm mở rộng 3,7 điểm phần trăm so với tháng trước, kéo CPI so với cùng kỳ giảm khoảng 0,29 điểm phần trăm; giá rau tươi và hoa quả tươi lần lượt giảm 0,5% và 1,0%; giá thịt bò, thịt cừu, thủy sản và trứng đều tăng, mức tăng dao động từ 1,0% đến 6,2%.
II. Tăng trưởng PPI mở rộng
Tính theo tháng, PPI toàn quốc tăng 1,7%, mức tăng mở rộng 0,7 điểm phần trăm so với tháng trước. Đặc điểm chính của biến động PPI theo tháng trong tháng này là: thứ nhất, các yếu tố nhập khẩu quốc tế đẩy giá trong các ngành liên quan đến dầu mỏ của Trung Quốc tăng lên. Giá dầu thô quốc tế tăng đã đẩy giá các ngành liên quan đến dầu mỏ tại Trung Quốc tăng theo. Cụ thể, giá ngành khai thác dầu mỏ và khí tự nhiên tăng 18,5% so với tháng trước, ngành chế biến dầu mỏ, than đá và nhiên liệu khác tăng 16,4%, ngành sản xuất nguyên liệu hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 8,3%, ngành sản xuất sợi hóa học tăng 5,6%, ngành sản phẩm cao su và nhựa tăng 1,7%. Thứ hai, nhu cầu gia tăng ở một số ngành trong nước đã đẩy giá tăng. Nhu cầu năng lực tính toán tăng nhanh và quá trình điện khí hóa được đẩy mạnh đã khiến giá sản xuất cáp quang tăng 22,5% so với tháng trước, giá thiết bị và linh kiện lưu trữ ngoài tăng 3,2%, giá ngành luyện kim và gia công cán kim loại màu tăng 0,2%; nhu cầu bổ sung tồn kho than nhiệt được giải phóng, kết hợp với nhu cầu than phi điện từ ngành hóa chất và luyện kim tăng, đẩy giá ngành khai thác và rửa than tăng 1,9%; việc tiếp tục thúc đẩy nâng cấp thiết bị sản xuất đã làm tăng nhu cầu thép, giá ngành luyện kim và gia công cán kim loại đen tăng 0,6%. Thứ ba, trật tự cạnh tranh trên thị trường Trung Quốc tiếp tục được cải thiện, giá các ngành liên quan tăng hoặc mức giảm thu hẹp. Việc chỉnh đốn sâu rộng cạnh tranh kiểu nội cuốn tiếp tục phát huy hiệu quả, giá sản xuất pin lithium-ion tăng 1,6% so với tháng trước, giá sản xuất xe năng lượng mới giảm 0,1%, mức giảm thu hẹp 0,7 điểm phần trăm so với tháng trước.
So với cùng kỳ năm trước, PPI toàn quốc tăng 2,8%, mức tăng mở rộng 2,3 điểm phần trăm so với tháng trước. Trong số các ngành có giá tăng chủ yếu, ngành khai thác và tuyển quặng kim loại màu tăng 38,9%, ngành luyện kim và gia công cán kim loại màu tăng 22,5%, hai ngành này đóng góp khoảng 1,58 điểm phần trăm vào mức tăng PPI so với cùng kỳ; ngành khai thác dầu mỏ và khí tự nhiên tăng 28,6%, ngành chế biến dầu mỏ, than đá và nhiên liệu khác tăng 14,2%, ngành sản xuất nguyên liệu hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 8,9%, ba ngành này đóng góp khoảng 1,5 điểm phần trăm vào mức tăng PPI so với cùng kỳ; ngành sản xuất máy móc và thiết bị điện tăng 3,6%, ngành sản xuất máy tính, thiết bị truyền thông và thiết bị điện tử khác tăng 1,5%, hai ngành này đóng góp khoảng 0,46 điểm phần trăm vào mức tăng PPI so với cùng kỳ. Trong số các ngành công nghiệp chính có giá giảm, sản phẩm khoáng sản phi kim loại giảm 5,5%, sản xuất và cung ứng điện, nhiệt giảm 4,2%, sản xuất ô tô giảm 2,0%, và luyện kim và gia công cán kim loại đen giảm 1,1%, cùng đóng góp khoảng 0,75 điểm phần trăm vào mức giảm PPI so với cùng kỳ năm trước.

![Lo ngại về mỏ Peru gây gián đoạn, giá đồng dao động ở mức cao [Bình luận đồng BC của SMM]](https://imgqn.smm.cn/usercenter/HaNSH20251217171714.jpeg)
![Bầu không khí giao dịch thị trường vẫn ảm đạm, giá giao dịch thị trường giảm [SMM Nhôm giao ngay - Đánh giá buổi trưa]](https://imgqn.smm.cn/usercenter/EVjRH20251217171653.jpg)
